Đột phá chuyển đổi số, tối ưu hóa khai thác cảng hàng không từ mô hình A-CDM
Việc triển khai mô hình A-CDM tại hai cảng hàng không trọng điểm Nội Bài và Tân Sơn Nhất giúp tối ưu hóa đáng kể hạ tầng, nguồn lực vận hành, giảm thời gian lăn của tàu bay, tiết kiệm nhiên liệu, giảm phát thải khí CO2 ra môi trường.
Sáng nay (24/4), Cục Hàng không Việt Nam tổ chức Hội nghị sơ kết triển khai mô hình Phối hợp ra quyết định tại cảng hàng không, sân bay (A-CDM) giai đoạn 1.

Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Uông Việt Dũng chủ trì Hội nghị sơ kết triển khai mô hình Phối hợp ra quyết định tại cảng hàng không, sân bay (A-CDM) giai đoạn 1. Ảnh Phan Công.
Theo đó, Hội nghị đã đánh giá những thành quả ấn tượng tại hai cửa ngõ hàng không lớn nhất cả nước là Nội Bài và Tân Sơn Nhất, đồng thời vạch ra lộ trình chiến lược cho giai đoạn tiếp theo.
Phát biểu tại hội nghị, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Uông Việt Dũng - Trưởng Ban chỉ đạo tổ chức thực hiện mô hình phối hợp ra quyết định khai thác tại cảng hàng không, sân bay khẳng định việc tiếp tục triển khai mô hình A-CDM không còn là lựa chọn mà là yêu cầu khách quan tất yếu của ngành.
Ông Dũng đánh giá cao sự chủ động, bài bản và có hệ thống của Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) trong quá trình thực hiện. Đồng thời, ghi nhận tinh thần trách nhiệm của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM), các hãng hàng không và các đơn vị phục vụ mặt đất đã tích cực tham gia hệ thống, góp phần nâng cao năng lực khai thác và điều hành bay.
Hướng tới giai đoạn 2, Cục trưởng Cục Hàng không nhấn mạnh yêu cầu phải khắc phục triệt để những tồn tại của giai đoạn trước, ngăn chặn các sai lỗi và lỗ hổng hệ thống ngay từ khâu thiết kế.
Ngoài ra, ông Dũng đề nghị các đơn vị cần sớm rà soát, kiện toàn Ban chỉ đạo và các tổ giúp việc chuyên môn để tham mưu chính xác, kịp thời. Việc xây dựng một khung kiến trúc tổng thể và hành lang pháp lý vững chắc, có tham chiếu kinh nghiệm quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm để đảm bảo hệ thống vận hành xuyên suốt.
Cục trưởng cũng yêu cầu thiết lập bộ chỉ số KPI cụ thể cho từng cảng hàng không nhằm đo lường hiệu quả một cách khoa học. Các Cảng hàng không trực thuộc ACV như Nội Bài, Tân Sơn Nhất phải duy trì vận hành hệ thống thường xuyên, liên tục, không để xảy ra gián đoạn.
Đặc biệt, công tác đào tạo nhân sự trực tiếp của các đơn vị trong hệ thống phải được thực hiện định kỳ và quyết liệt, đảm bảo mỗi mắt xích trong dây chuyền đều nắm vững quy trình, hạn chế tối đa sai sót chủ quan.




Một số hình ảnh tại Trung tâm điều phối khai thác Nội Bài (AOCC Nội Bài). Ảnh Phan Công.
Trước đó, theo báo cáo tại hội nghị, mô hình A-CDM giai đoạn 1 đã phát huy hiệu quả thực tế, hoàn toàn phù hợp với các quy chuẩn và xu hướng hàng không quốc tế.
Việc triển khai mô hình A-CDM tại hai cảng hàng không trọng điểm giúp tối ưu hóa đáng kể hạ tầng, nguồn lực vận hành, giảm thời gian lăn của tàu bay, giúp tiết kiệm nhiên liệu, giảm phát thải khí CO2 ra môi trường.
Cụ thể, tại Tân Sơn Nhất, thời gian lăn của tàu bay giảm trung bình từ 0,48 - 0,65 phút/chuyến, giúp tiết kiệm hơn 3,7 triệu USD chi phí nhiên liệu.
Đối với Nội Bài, chỉ số đúng giờ (OTP) tăng so với trước khi triển khai (đạt 71,47%), thời gian lăn ra của tàu bay giảm trung bình gần 1,5 phút mỗi chuyến.
Những kết quả này không chỉ khẳng định nỗ lực của cả hệ thống mà còn là minh chứng cho cam kết hướng tới mục tiêu "Hàng không xanh" của toàn ngành.