Giáo dục

Đưa AI vào trường học: Bài toán hiệu quả học tập

-

AI mở ra cơ hội đổi mới dạy và học, nhưng hiệu quả không đến chỉ nhờ công cụ. Hạ tầng, năng lực giáo viên và cách tổ chức hoạt động, đánh giá học sinh quyết định công nghệ có thực sự nâng cao chất lượng học tập hay không.

Phát triển tư duy, không chỉ kỹ năng

GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách giáo dục, cho biết năm 2023, khi ChatGPT bắt đầu phổ biến, ngành giáo dục còn tranh luận về việc có nên cấm học sinh sử dụng AI. Đến năm 2026, vấn đề không còn là cấm hay không, mà là hướng dẫn học sinh sử dụng công nghệ này như thế nào.

Đưa AI vào trường học: Bài toán hiệu quả học tập- Ảnh 1.

GS.TS Lê Anh Vinh cho rằng giáo dục AI cần chú trọng phát triển tư duy, giúp học sinh sử dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm.

Theo ông, trẻ em đang lớn lên trong môi trường số và thường xuyên tiếp xúc với công nghệ. Ngăn các em tiếp cận AI có thể tạo ra khoảng cách với thực tế. Vì vậy, nhà trường cần giúp học sinh hiểu về công nghệ, nhận biết lợi ích, rủi ro và sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm.

Ông ví giáo dục AI với giáo dục an toàn giao thông: dạy trẻ về an toàn giao thông không đồng nghĩa với việc dạy các em lái xe máy. Tương tự, giáo dục AI cho học sinh tiểu học không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc hướng dẫn sử dụng ChatGPT. Điều quan trọng trước hết là giúp các em hiểu về thế giới công nghệ mình đang sống.

Để chuẩn bị đưa AI vào trường phổ thông, từ năm 2024, Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, khảo sát thực tế và xây dựng khung năng lực AI cho học sinh. Năm 2025, Bộ tiếp tục khảo sát giáo viên, xây dựng khung năng lực AI dành cho giáo viên và triển khai thí điểm. Ngày 18/8/2026, Bộ ban hành Quyết định số 2422/QĐ-BGDĐT về Khung nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông.

Từ năm học 2026-2027, nội dung giáo dục AI được triển khai đại trà trên cả nước, với thời lượng cốt lõi 12 tiết mỗi lớp mỗi năm học, dành cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Khung nội dung gồm bốn mạch: tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, kỹ thuật và ứng dụng AI, thiết kế hệ thống AI.

Học sinh không chỉ cần biết sử dụng công cụ mà còn phải hiểu AI được tạo ra để làm gì, hoạt động như thế nào và cần được sử dụng ra sao. Vì vậy, chương trình chú trọng cả nguyên lý hoạt động của công nghệ, thay vì chỉ hướng dẫn sử dụng các ứng dụng có sẵn. Nội dung được thiết kế phù hợp với từng độ tuổi, từ kiến thức cơ bản đến chuyên sâu hơn.

Khảo sát năm 2024 trên 11.279 học sinh THCS được ông Vinh dẫn lại cho thấy 48% học sinh cho biết thiếu sự hướng dẫn của giáo viên về AI; 47,19% cho rằng chưa đủ kiến thức, kỹ năng sử dụng; hơn 42% gặp khó khăn về thiết bị và công nghệ. Những con số này cho thấy việc đưa AI vào trường học cần đi cùng hướng dẫn của giáo viên và điều kiện tiếp cận phù hợp.

Một thách thức khác là đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá. Khi AI có thể viết bài, giải toán hoặc làm bài thuyết trình trong thời gian ngắn, sản phẩm hoàn chỉnh chưa chắc phản ánh đúng năng lực và nỗ lực của người học.

Ông nhấn mạnh, học tập không phải là quá trình chỉ nhằm hoàn thành nhiệm vụ nhanh nhất. Học sinh cần tự suy nghĩ, tìm tòi và giải quyết vấn đề để hình thành kiến thức, kỹ năng. Do đó, việc ứng dụng AI phải đi cùng cách tổ chức dạy học và đánh giá phù hợp, bảo đảm công nghệ hỗ trợ phát triển năng lực thay vì làm thay quá trình học tập.

Ở góc độ giáo viên trực tiếp đứng lớp, cô Nguyễn Nguyệt Huệ, giáo viên môn Vật lý Trường THPT Nguyễn Gia Thiều (phường Bồ Đề), cho biết giáo viên nhà trường vừa tham gia tập huấn tại Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV), tiếp cận các cách ứng dụng AI trong chuẩn bị bài giảng, xây dựng học liệu và tổ chức hoạt động học tập.

Theo cô Huệ, AI có thể hỗ trợ tìm kiếm thông tin, xây dựng câu hỏi, thiết kế tình huống học tập và gợi ý ý tưởng cho bài giảng. Tuy nhiên, giáo viên phải kiểm chứng, chọn lọc và điều chỉnh nội dung để bảo đảm tính chính xác, phù hợp với năng lực học sinh.

Giáo viên cũng cần tổ chức hoạt động để học sinh chủ động đặt câu hỏi, phản biện và đánh giá thông tin, thay vì chỉ tiếp nhận câu trả lời có sẵn. Trong giai đoạn đầu, thầy cô thường phải dành thêm thời gian tìm hiểu công cụ, thử nghiệm tính năng và lựa chọn cách triển khai. Khi có kinh nghiệm, AI có thể giúp tiết kiệm thời gian xây dựng học liệu và hỗ trợ cá nhân hóa hoạt động học tập.

Cô Huệ cho rằng hiệu quả không phụ thuộc vào số lượng công cụ AI được sử dụng, mà ở cách khai thác chúng trong dạy học. Công nghệ có thể hỗ trợ giáo viên và học sinh, nhưng không thay thế vai trò định hướng, truyền cảm hứng và giáo dục phẩm chất của người thầy.

Từ kế hoạch đến thực tế

Trong năm học 2026-2027, Hà Nội triển khai giáo dục AI tại 100% cơ sở giáo dục, hướng tới trang bị kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Cùng với việc đưa nội dung này vào trường học, ngành giáo dục thành phố chú trọng bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý và theo dõi mức độ tiếp nhận của học sinh.

Đưa AI vào trường học: Bài toán hiệu quả học tập- Ảnh 2.

ThS Lê Trung Kiên cho biết Trường Phổ thông Phùng Hưng chú trọng hướng dẫn học sinh sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm, phát triển tư duy độc lập và trung thực trong học tập.

Tại hội nghị triển khai kế hoạch giáo dục AI cho học sinh phổ thông và học viên giáo dục thường xuyên ngày 18/9, ông Hà Xuân Nhâm, Trưởng phòng Giáo dục trung học, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, cho biết hơn 1.700 cơ sở với gần 1,7 triệu học sinh, học viên đã được tiếp cận nội dung này. Gần 80.000 lượt cán bộ quản lý, giáo viên được tập huấn, đạt hơn 98,2%. Mức độ hứng thú của học sinh đạt bình quân khoảng 4/5 điểm, riêng cấp THCS đạt 4,26 điểm.

Theo Kế hoạch số 4758/KH-SGDĐT của Sở, mỗi năm học sinh được học 12 tiết về AI. Nội dung được tổ chức theo chuyên đề, không hình thành môn học mới, không có bài kiểm tra định kỳ riêng, không lập sổ điểm riêng và không phát sinh chi phí đối với gia đình. Bốn mạch nội dung được triển khai gồm tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, kỹ thuật và ứng dụng AI, thiết kế hệ thống AI.

Từ kế hoạch chung, các trường xây dựng phương án phù hợp với điều kiện thực tế. Tại Trường Tiểu học Thành Công B, bà Phạm Minh Thảo, Hiệu trưởng, cho biết nhà trường lồng ghép nội dung AI và chương trình Kỹ năng công dân số vào các tiết học. Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng công nghệ phù hợp với năng lực và đặc điểm lứa tuổi, giúp các em từng bước làm quen với máy tính và công cụ số.

Ở cấp THCS, Trường THCS Nghĩa Tân tổ chức chuyên đề tiếng Anh về ứng dụng AI hỗ trợ học tập và sáng tạo sản phẩm số cho học sinh lớp 8A16, dưới sự hướng dẫn của cô Bùi Thị Thu Hường.

Với hoạt động "Digital Creators", học sinh làm việc theo nhóm, sáng tạo các câu tiếng Anh chứa hai âm vừa học, tự thu âm giọng đọc rồi sử dụng phần mềm HeyGen để tạo video có hình đại diện hoạt hình ứng dụng AI. Sản phẩm được đăng lên Padlet để giáo viên và học sinh theo dõi, nhận xét, đánh giá.

Hoạt động này kết hợp thực hành ngôn ngữ với sáng tạo sản phẩm số. Tuy nhiên, để xác định hiệu quả, cần đánh giá mức độ tiến bộ về kiến thức và kỹ năng của học sinh, thay vì chỉ căn cứ vào sản phẩm hoàn thành.

ThS Lê Trung Kiên, Phó viện trưởng Viện Tâm lý Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Phùng Hưng (Sóc Sơn, Hà Nội), cho biết nhà trường xác định việc ứng dụng công nghệ, trong đó có AI, phải phục vụ mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển năng lực thực chất của học sinh.

Hiện trường đã ứng dụng các nền tảng học tập số, trong đó có hệ thống LMS hỗ trợ giao nhiệm vụ theo hướng cá nhân hóa. Đây là nền tảng để nhà trường từng bước phát triển năng lực số và hướng dẫn học sinh sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm.

Theo ông Kiên, nhà trường chú trọng lồng ghép kỹ năng sử dụng AI vào quá trình dạy học, thay vì coi đây là nội dung công nghệ độc lập. Khi tìm kiếm thông tin, nghiên cứu hoặc thực hiện dự án, học sinh cần biết đối chiếu dữ liệu từ nhiều nguồn, phân biệt thông tin có căn cứ với nội dung do AI tạo ra, ghi rõ tài liệu tham khảo và minh bạch về việc sử dụng AI trong sản phẩm học tập.

Học sinh cũng cần phân biệt giữa dùng AI để hỗ trợ và để công cụ làm thay việc học. Các em cần biết cách đặt câu hỏi, khai thác AI để tìm hiểu kiến thức, đồng thời tự giải thích, đánh giá và chịu trách nhiệm về kết quả học tập. Kỹ năng bảo vệ thông tin cá nhân, hình ảnh và dữ liệu của bản thân cũng như của người khác cần được lồng ghép vào các tình huống gần gũi với đời sống.

Với mô hình trường liên cấp, nội dung hướng dẫn cần phù hợp với từng độ tuổi. Học sinh tiểu học cần những quy tắc đơn giản, dễ ghi nhớ và sự giám sát chặt chẽ của người lớn. Trong khi đó, học sinh THCS và THPT cần được tiếp cận sâu hơn với các vấn đề kiểm chứng thông tin, quyền riêng tư, bản quyền và đạo đức học thuật.

Ông Kiên đánh giá học sinh có khả năng tiếp cận, thích nghi với công nghệ khá nhanh. Các công cụ AI cũng mở ra cơ hội để giáo viên đổi mới phương pháp, thiết kế hoạt động học tập phong phú và hỗ trợ học sinh theo năng lực cá nhân.

Tuy nhiên, khó khăn không chỉ nằm ở hạ tầng mà còn ở việc hình thành nhận thức và phương pháp sử dụng AI đúng đắn cho cả giáo viên lẫn học sinh. Giáo viên cần được bồi dưỡng thường xuyên để hiểu rõ khả năng, giới hạn và rủi ro của công cụ.

Việc xác định ranh giới giữa sử dụng AI hợp lý với lệ thuộc vào công nghệ hoặc thiếu trung thực trong học tập cũng đòi hỏi hướng dẫn cụ thể, thống nhất và phù hợp với từng môn học. Gia đình cần phối hợp với nhà trường bởi học sinh có thể sử dụng AI ngoài lớp học, nơi giáo viên khó trực tiếp giám sát.

"Về lâu dài, mục tiêu không chỉ là xây dựng bộ quy tắc sử dụng AI mà còn hình thành văn hóa học tập đề cao trách nhiệm, tính trung thực và tư duy độc lập của học sinh", ông Kiên nhấn nói.