Nhiều điểm mới trong quy định xếp lương giáo viên giáo dục thường xuyên
Lần đầu, giáo viên giáo dục thường xuyên được quy định mã số, chức danh nghề nghiệp riêng, kèm theo nguyên tắc xếp lương theo vị trí việc làm nhưng vẫn bảo đảm giữ ổn định thu nhập và quyền lợi khi chuyển đổi.
Chính thức có mã số, chức danh nghề nghiệp
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành Thông tư số 23/2026/TT-BGDĐT ngày 9/4, quy định về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, bổ nhiệm và xếp lương đối với giáo viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên. Văn bản nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Nhà giáo và có hiệu lực kể từ ngày ký.

Chức danh giáo viên giáo dục thường xuyên được chuẩn hóa (Ảnh minh hoạ).
Một trong những điểm mới đáng chú ý là lần đầu tiên giáo viên giáo dục thường xuyên được quy định mã số và chức danh nghề nghiệp riêng.
Trước đây, đội ngũ này sử dụng chung mã số và chức danh của giáo viên THCS hoặc THPT. Tuy nhiên, từ khi Nghị định số 93/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực, chức danh "giáo viên giáo dục thường xuyên" đã chính thức được xác lập.
Trên cơ sở đó, Thông tư 23 quy định ba hạng chức danh gồm: hạng III (mã số V.07.05.18), hạng II (mã số V.07.05.17) và hạng I (mã số V.07.05.16).
Quy định rõ nhiệm vụ theo từng hạng
Thông tư quy định tương đối đầy đủ các nhiệm vụ trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên giáo dục thường xuyên, được phân theo từng vị trí việc làm và hạng chức danh.
Trong đó, nhiệm vụ của giáo viên hạng III là nền tảng chung. Giáo viên ở hạng cao hơn phải thực hiện toàn bộ nhiệm vụ của hạng thấp liền kề, đồng thời đảm nhận thêm các nhiệm vụ có tính chất phức tạp hơn.
Nhiệm vụ được xây dựng theo 5 nhóm hoạt động chính: giảng dạy, giáo dục và đánh giá người học; học tập, bồi dưỡng; nghiên cứu khoa học; phục vụ cộng đồng; và các hoạt động chuyên môn khác.
Về tiêu chuẩn nghề nghiệp, giáo viên được đánh giá theo 3 nhóm: đạo đức nhà giáo; trình độ đào tạo, bồi dưỡng; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Trong đó, tiêu chuẩn đạo đức áp dụng chung cho cả ba hạng.
Giáo viên giáo dục thường xuyên tiếp tục phải đáp ứng yêu cầu về trình độ tương tự giáo viên THPT, đồng thời hoàn thành chương trình bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp riêng. Các tiêu chí về năng lực chuyên môn cũng được quy định cụ thể, phù hợp từng vị trí việc làm.
Theo Bộ GD&ĐT, việc quy định rõ nhiệm vụ và tiêu chuẩn sẽ giúp các cơ sở giáo dục phân công công việc phù hợp năng lực, đồng thời tạo định hướng phát triển nghề nghiệp cho giáo viên. Đây cũng là cơ sở để tiến tới trả lương theo vị trí việc làm khi cải cách chính sách tiền lương.
Giữ ổn định lương và quyền lợi
Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc bảo đảm ổn định đội ngũ khi thực hiện bổ nhiệm và xếp lương. Giáo viên đang ở vị trí nào sẽ được chuyển sang hạng chức danh tương ứng và tiếp tục hưởng thang lương hiện tại.
Việc bổ nhiệm căn cứ vào ba điều kiện: đạt tiêu chuẩn đạo đức, trình độ đào tạo – bồi dưỡng và đang giữ chức danh có hệ số lương viên chức tương ứng.
Cụ thể, hệ số lương được áp dụng như sau: giáo viên hạng III: viên chức loại A1 (hệ số từ 2,34 đến 4,98); giáo viên hạng II: viên chức loại A2, nhóm A2.2 (từ 4,0 đến 6,38); giáo viên hạng I: viên chức loại A2, nhóm A2.1 (từ 4,40 đến 6,78).
Thông tư cũng quy định các nội dung chuyển tiếp nhằm bảo đảm quyền lợi cho giáo viên. Những người chưa đủ điều kiện bổ nhiệm theo chức danh mới sẽ tiếp tục giữ nguyên mã số, chức danh và hệ số lương hiện tại cho đến khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn.
Các chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của giáo viên THCS, THPT trước đây được công nhận tương đương. Đồng thời, giáo viên được tuyển dụng hoặc thay đổi vị trí việc làm trước thời điểm Thông tư có hiệu lực không bắt buộc phải có chứng chỉ bồi dưỡng theo chuẩn mới.
Theo Bộ GD&ĐT, việc ban hành Thông tư 23 góp phần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và chính sách đối với giáo viên giáo dục thường xuyên, bảo đảm quyền lợi cho đội ngũ, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở giáo dục trong thời gian tới.