UTH kết nối chuyên gia quốc tế, chia sẻ giải pháp cho đường sắt Việt Nam
Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM (UTH) tổ chức Hội thảo quốc tế SRS 2026, quy tụ các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp trong nước, quốc tế cùng trao đổi giải pháp phát triển hệ thống đường sắt hiện đại, đồng bộ và bền vững.
Ngày 22/8, Trường Đại học Giao thông vận tải TP.HCM (UTH) tổ chức Hội thảo quốc tế lần thứ nhất về Hệ thống đường sắt thông minh - SRS 2026, quy tụ các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp trong nước, quốc tế cùng trao đổi về những giải pháp phát triển đường sắt hiện đại, đồng bộ và bền vững cho Việt Nam.

Các đại biểu tham dự hội thảo do Trường Đại học Giao thông vận tải TP.HCM (UTH) tổ chức.
Hội thảo với chủ đề "Hệ thống đường sắt thông minh: Đổi mới sáng tạo vào thực tiễn" diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn đầu tư mạnh mẽ cho đường sắt quốc gia, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Bốn bài toán lớn của đường sắt đô thị
Tại SRS 2026, các chuyên gia tập trung vào 4 nhóm vấn đề lớn gồm xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật và vận hành liên thông; quy hoạch đường sắt gắn với phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD); cơ chế tài chính, khai thác giá trị gia tăng từ đất để tái đầu tư cho đường sắt; chuyển giao công nghệ, nội địa hóa thiết bị và phát triển chuỗi cung ứng trong nước.
Theo TS. Nguyễn Văn Đức, Viện trưởng Viện Đường sắt Tốc độ cao UTH, TP đang quy hoạch mạng lưới đường sắt đô thị gồm 27 tuyến với tổng chiều dài hơn 1.000 km, phù hợp với không gian phát triển mới sau khi mở rộng địa giới hành chính. Quy mô này mở ra cơ hội lớn để thành phố xây dựng hệ thống giao thông công cộng hiện đại, tích hợp, song cũng đặt ra nhiều thách thức về quy hoạch, tiêu chuẩn kỹ thuật, tài chính và phát triển ngành công nghiệp đường sắt.

TS. Nguyễn Văn Đức, Viện trưởng Viện Đường sắt Tốc độ cao UTH trình bày tham luận.
Ngoài việc khái quát hiện trạng và định hướng phát triển mạng lưới đường sắt đô thị TP.HCM, TS. Nguyễn Văn Đức cũng đồng thời chỉ ra những vấn đề then chốt cần giải quyết để bảo đảm quá trình phát triển hiệu quả và bền vững.
Trong đó, các nội dung trọng tâm gồm xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất, bảo đảm khả năng tương tác và vận hành trên toàn mạng lưới; tích hợp quy hoạch đường sắt với phát triển đô thị theo mô hình TOD; xây dựng cơ chế tài chính thông qua khai thác giá trị gia tăng từ đất đai (land value capture); thúc đẩy chuyển giao công nghệ, sản xuất trong nước, phát triển chuỗi cung ứng và công nghệ xanh.
Một trong những nội dung được quan tâm tại hội thảo là bài toán chuẩn hóa và khả năng tương tác giữa các tuyến metro. Ông Jiang Bo, chuyên gia của Hiệp hội Metro Trung Quốc, phân tích những thách thức khi các hệ thống metro được phát triển theo nhiều bộ tiêu chuẩn khác nhau, đồng thời đề xuất khung quản trị tiêu chuẩn và nội địa hóa phù hợp với mạng lưới đường sắt đô thị Việt Nam.

Ông Jiang Bo, chuyên gia Hiệp hội Metro Trung Quốc đưa ra một số gợi ý về khung quản trị tiêu chuẩn cho đường sắt tại Việt Nam.
Trong khi đó, ông Jason Ng, chuyên gia Arup Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu chuẩn hóa đường sắt đô thị không nhằm áp dụng một công nghệ duy nhất mà cần xây dựng những tiêu chuẩn chung về kiến trúc hệ thống, vận hành, bảo trì và khả năng tương tác, qua đó giúp các tuyến có thể vận hành như một mạng lưới thống nhất.
TOD không chỉ là câu chuyện quanh nhà ga
Một chủ đề xuyên suốt SRS 2026 là mối quan hệ giữa đường sắt và phát triển đô thị.
TS. Nguyễn Đình Nên, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, cho rằng quy hoạch đường sắt đô thị cần được đặt trong tổng thể phát triển không gian đô thị và vùng. Theo định hướng được trình bày tại hội thảo, mạng lưới metro TP.HCM có thể được mở rộng lên khoảng 655km với 12 tuyến, kết hợp TOD và phát triển mô hình đô thị đa trung tâm.
Từ góc nhìn quốc tế, bà Monique Suksmaningsih, chuyên gia của Broadway Malyan Singapore, đặt vấn đề mở rộng tư duy từ TOD sang TOC - cộng đồng định hướng giao thông. Theo đó, hệ thống giao thông công cộng không chỉ phục vụ việc đưa hành khách từ điểm này đến điểm khác mà còn phải góp phần hình thành những không gian đáng sống, làm việc và kết nối cộng đồng.

Nhiều kinh nghiệm quốc tế về khai thác TOD quanh các nhà ga metro được các chuyên gia chia sẻ tại hội thảo.
Ở góc độ tài chính, GS. Shao Jinyan, chuyên gia của Beijing Urban Construction Design & Development Group, chia sẻ kinh nghiệm TOD tại Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh việc tích hợp khai thác giá trị đất đai, bất động sản, dịch vụ di chuyển và dữ liệu để tạo nguồn lực hỗ trợ cả đầu tư xây dựng lẫn vận hành đường sắt trong dài hạn.
Bên cạnh quy hoạch và tài chính, công nghệ là một trong những nội dung trọng tâm của SRS 2026.
Ông Nguyễn Chí Linh, Tổng Công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel, giới thiệu các giải pháp 5G và FRMCS cho đường sắt tốc độ cao, hướng tới làm chủ công nghệ trong nước và từng bước thay thế các công nghệ thông tin liên lạc truyền thống trên những dự án đường sắt tương lai.
Các chuyên gia từ Nippon Koei cũng chia sẻ kinh nghiệm triển khai metro số 1 TP.HCM và những yếu tố then chốt để phát triển các dự án đường sắt đô thị trong tương lai.

Các chuyên gia tại phiên tọa đàm với chủ đề "Từ một tuyến đến một mạng lưới: Đồng bộ hóa đường sắt đô thị TP.HCM, 2026-2035".
Đáng chú ý, SRS 2026 còn dành phiên tọa đàm với chủ đề "Từ một tuyến đến một mạng lưới: Đồng bộ hóa đường sắt đô thị TP.HCM, 2026-2035", tập trung thảo luận cách chuyển từ tư duy phát triển từng tuyến sang xây dựng một mạng lưới đường sắt đô thị tích hợp.
Phiên tọa đàm do PGS.TS Nguyễn Tiến Thủy, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng UTH, Trưởng Ban Tổ chức SRS 2026, chủ trì; TS. Nguyễn Văn Đức, Viện trưởng Viện Đường sắt Tốc độ cao UTH, đảm nhiệm vai trò điều phối.
Thông qua SRS 2026, UTH hướng tới xây dựng diễn đàn kết nối thường xuyên giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, chuyên gia và cơ sở đào tạo; thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm quốc tế.
Trong bối cảnh hàng loạt dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị và đường sắt quốc gia được chuẩn bị và triển khai, việc đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia có khả năng làm chủ công nghệ, thiết kế, vận hành và bảo trì được xem là một trong những yếu tố quan trọng để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đường sắt của Việt Nam.