Hàng hải

Cần hơn 4.900 tỷ đồng phát triển cảng biển Kiên Giang đến năm 2030

01/01/2026, 09:51

Bộ Xây dựng vừa phê duyệt Quy hoạch chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Kiên Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Đáp ứng 4,5 triệu tấn hàng hóa thông qua

Theo quy hoạch, cảng biển Kiên Giang gồm các khu bến: Rạch Giá, Hòn Chông, Bình Trị – Kiên Lương, Bãi Nò – Hà Tiên, Phú Quốc; cùng các bến cảng An Thới, Vịnh Đầm, Bãi Vòng, Mũi Đất Đỏ, bến cảng tại quần đảo Nam Du, bến cảng Thổ Châu và hệ thống các bến phao, khu chuyển tải, khu neo chờ, tránh, trú bão.

Cần hơn 4.900 tỷ đồng phát triển cảng biển Kiên Giang đến năm 2030- Ảnh 1.

Mục tiêu đến năm 2030, cảng biển Kiên Giang đáp ứng cho lượng hàng hoá tới 4,5 triệu tấn và 10,50 triệu lượt hành khách (Ảnh minh hoạ).

Mục tiêu đến năm 2030, cảng biển Kiên Giang đáp ứng sản lượng hàng hóa thông qua từ 3,6 – 4,5 triệu tấn và sản lượng hành khách từ 9,82 – 10,50 triệu lượt (ảnh minh họa).

Về kết cấu hạ tầng, toàn hệ thống có 10 bến cảng, gồm 25 – 26 cầu cảng với tổng chiều dài từ 2.933,5 m đến 3.233,5 m (chưa bao gồm các bến cảng khác).

Tầm nhìn đến năm 2050, cảng biển Kiên Giang đáp ứng nhu cầu hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân từ 5,5% – 6,1%/năm, cùng sản lượng hành khách tăng bình quân từ 1,1% – 1,25%/năm.

Giai đoạn này, tiếp tục phát triển các bến cảng mới nhằm đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa; trong đó ưu tiên các khu vực tiềm năng như Bãi Nò – Hà Tiên, Rạch Tràm, Mũi Đất Đỏ, Nam Du, Thổ Châu và các khu vực khác đủ điều kiện.

Đối với kết cấu hạ tầng hàng hải công cộng, quy hoạch định hướng duy trì chuẩn tắc các tuyến luồng hiện hữu; lộ trình đầu tư phụ thuộc khả năng bố trí, huy động nguồn lực. Trường hợp huy động được nguồn vốn xã hội hóa, cho phép đầu tư luồng hàng hải phù hợp với quy mô bến cảng theo quy hoạch. Đồng thời, triển khai kết nối đường bộ, đường thủy nội địa và đường ven biển theo quy hoạch được phê duyệt.

Cùng với đó, định hướng phát triển các bến cảng khác như bến du thuyền phục vụ du lịch, bến phục vụ các cơ quan quản lý nhà nước, nghiên cứu, huấn luyện, đào tạo, cung cấp dịch vụ hàng hải; các bến, cầu cảng gắn với khu bến chính, đảm nhận vai trò thu gom, giải tỏa hàng hóa bằng đường thủy.

Quy hoạch cũng định hướng bố trí các vùng đón trả hoa tiêu, kiểm dịch tại khu vực Hà Tiên, Bình Trị, Hòn Chông, Rạch Giá, An Thới, Vịnh Đầm, Bãi Vòng, Nam Du và khu vực ngoài khơi bến cảng hành khách quốc tế Phú Quốc.

Tổng nhu cầu sử dụng đất theo quy hoạch đến năm 2030 khoảng 209 ha (chưa bao gồm diện tích phát triển khu công nghiệp, logistics gắn liền với cảng); tổng nhu cầu sử dụng mặt nước khoảng 72.369,4 ha (đã bao gồm diện tích vùng nước khác trong phạm vi quản lý, không bố trí công trình hàng hải).

Đến năm 2030, nhu cầu vốn đầu tư kết cấu hạ tầng cảng biển Kiên Giang khoảng 4.954 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư hạ tầng hàng hải công cộng khoảng 3.064 tỷ đồng, vốn đầu tư bến cảng khoảng 1.890 tỷ đồng.

Ưu tiên đầu tư các hạng mục phục vụ bảo đảm an toàn hàng hải như khu neo đậu tránh, trú bão; đài thông tin duyên hải; hệ thống giám sát, điều phối giao thông hàng hải (VTS); bến công vụ và cơ sở vật chất phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên ngành. Đồng thời, ưu tiên đưa vào khai thác các bến cảng khách du lịch, bến khách quốc tế và bến du thuyền gắn với các vùng động lực phát triển du lịch.

Ưu tiên phát triển cảng xanh, kết nối logistics

Để triển khai hiệu quả quy hoạch, Bộ Xây dựng đề ra nhiều nhóm giải pháp, gồm hoàn thiện cơ chế, chính sách; huy động vốn đầu tư; phát triển nguồn nhân lực; ứng dụng khoa học, công nghệ.

Cụ thể, khuyến khích đầu tư đồng bộ khu công nghiệp, cụm công nghiệp với hạ tầng cảng biển (bến cảng, luồng tàu, đê, kè chắn sóng…) nhằm nâng cao hiệu quả khai thác. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách giá, phí cảng biển, tăng tính hấp dẫn đối với các hãng tàu và nhà đầu tư.

Việc hoàn thiện cơ chế huy động đa dạng nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển theo quy hoạch; thể chế hóa các giải pháp phân cấp, phân quyền trong huy động vốn cũng được chú trọng. Song song đó, khuyến khích doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, khai thác cảng biển, đẩy mạnh xã hội hóa phát triển hạ tầng cảng.

Đặc biệt, tăng cường vai trò của doanh nghiệp trong chia sẻ trách nhiệm đầu tư, bảo trì kết cấu hạ tầng công cộng tại cảng biển như một phần của dự án khai thác cảng.

Đối với môi trường, khoa học và công nghệ, quy hoạch khuyến khích nhà đầu tư khai thác cảng ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ số và chuyển đổi số trong xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống cảng biển. Đồng thời, xây dựng cơ chế ưu đãi cho cảng xanh, cảng biển thông minh, coi tiêu chí cảng xanh là một trong những căn cứ lựa chọn nhà đầu tư.

Trong hợp tác quốc tế, tăng cường xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước thông qua các chính sách ưu đãi, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường kết nối cảng cạn, trung tâm phân phối hàng hóa, dịch vụ hậu cần sau cảng và dịch vụ logistics, hỗ trợ hoạt động khai thác cảng biển; xây dựng kho dữ liệu tập trung và nền tảng công nghệ thông tin dùng chung phục vụ quản lý nhà nước và khai thác cảng.