Áp lực nguồn cung từ các dự án hạ tầng
TP.HCM đang đẩy mạnh đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng với nhiều công trình trọng điểm như đường Vành đai 3, Vành đai 4, cao tốc TP.HCM - Mộc Bài và các tuyến giao thông kết nối liên vùng. Việc nhiều dự án đồng loạt triển khai khiến nhu cầu đá xây dựng, cát và đất đắp gia tăng, đặt ra yêu cầu bảo đảm nguồn cung ổn định, đáp ứng tiến độ thi công.
Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP.HCM (Ban Giao thông), trong những tháng cuối năm 2026, đơn vị có 20 dự án, công trình trọng điểm cần hỗ trợ điều phối khoảng 1,91 triệu m³ đá xây dựng, 550.000m³ cát xây dựng, 1,85 triệu m³ cát san lấp và 3,7 triệu m³ đất đắp.

TP.HCM có nhu cầu vật liệu xây dựng lớn để triển khai loạt dự án trọng điểm.
Trong đó, dự án đường Vành đai 3 cần khoảng 870.000m³ đá xây dựng; cao tốc TP.HCM - Mộc Bài cần khoảng 380.000m³ đá, 1,53 triệu m³ cát san lấp và 2,67 triệu m³ đất đắp.
Theo đánh giá tại Đề án phát triển vật liệu xây dựng TP.HCM đến năm 2030, định hướng đến năm 2050, nhu cầu vật liệu xây dựng trên địa bàn TP tiếp tục gia tăng cùng với quá trình phát triển hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp và logistics.
Trong khi đó, khả năng cung ứng giữa các nhóm vật liệu chưa đồng đều. Nguồn đá xây dựng có lợi thế từ các khu vực khai thác tập trung, song việc huy động còn phụ thuộc vào công suất, điều kiện vận chuyển và tiến độ cấp phép. Đối với cát xây dựng và vật liệu san lấp, nguồn cung tại chỗ còn hạn chế, đòi hỏi phải tăng cường liên kết với các địa phương lân cận.
Đề án đánh giá, việc bảo đảm vật liệu cho các công trình quy mô lớn thường phụ thuộc vào trữ lượng khoáng sản liên quan đến khả năng khai thác, chế biến, chất lượng sản phẩm và tổ chức vận chuyển.
Đối với những dự án có nhu cầu vật liệu lớn, việc xác định nguồn cung ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế tình trạng thiếu hụt cục bộ khi bước vào giai đoạn thi công cao điểm.
Thực tế tại dự án đường Vành đai 3 cho thấy nguồn cát đắp nền vẫn là một trong những khó khăn ảnh hưởng đến tiến độ. Một số gói thầu phải tăng cường tìm kiếm nguồn vật liệu từ các địa phương khác, trong khi khối lượng cung ứng có thời điểm chưa đáp ứng nhu cầu thi công.
Theo Ban Giao thông, nguồn cát tự nhiên trong khu vực còn hạn chế, một số mỏ đang hoàn thiện thủ tục cấp phép, nâng công suất và đánh giá trữ lượng. Đối với đất đắp, dù tổng nguồn cung có khả năng đáp ứng, việc lựa chọn nguồn đạt yêu cầu kỹ thuật và có cự ly vận chuyển phù hợp vẫn gặp khó khăn.
Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu chuyển từ phương thức xử lý thiếu hụt vật liệu theo từng dự án sang chủ động cân đối cung - cầu ở quy mô TP và liên vùng.
Chủ động nguồn nguyên liệu, tăng cường liên kết vùng
Tại Hội thảo tham vấn Đề án phát triển vật liệu xây dựng TP.HCM đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 ngày 6/11, ông Khải Quốc Bình, Phó Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM, nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm cân đối cung - cầu, sử dụng hiệu quả tài nguyên và tăng cường liên kết vùng trong phát triển ngành vật liệu xây dựng.
Theo định hướng của đề án, TP cần rà soát nguồn tài nguyên khoáng sản phục vụ xây dựng, đánh giá khả năng huy động theo từng giai đoạn và xác định các giải pháp phát triển nguồn cung phù hợp với nhu cầu đầu tư hạ tầng.
Đối với đá xây dựng, đề án chú trọng nâng cao hiệu quả khai thác, chế biến tại các khu vực có nguồn nguyên liệu phù hợp, gắn công suất sản xuất với yêu cầu bảo vệ môi trường và khả năng vận chuyển.
Đối với cát xây dựng và vật liệu san lấp, giải pháp được đặt ra là rà soát các khu vực đang khai thác, có khả năng đưa vào khai thác và những nguồn tài nguyên cần tiếp tục thăm dò, đánh giá.
Trong đó, nguồn cát biển được xem là một trong những hướng nghiên cứu nhằm bổ sung vật liệu san lấp, nhất là đối với các công trình hạ tầng quy mô lớn và khu vực ven biển. Tuy nhiên, việc khai thác, sử dụng phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng vật liệu, điều kiện kỹ thuật và bảo vệ môi trường.

Bảo đảm nguồn vật liệu là yếu tố quan trọng để duy trì tiến độ thi công các công trình hạ tầng.
Bên cạnh nguồn vật liệu tự nhiên, đề án cũng đề cập định hướng phát triển các loại vật liệu thay thế, trong đó có cát nghiền từ đá và vật liệu tái chế.
Theo tài liệu trình bày tại hội thảo, TP.HCM có 36 cơ sở khai thác, chế biến đá xây dựng với tổng công suất thiết kế khoảng 20,9 triệu m³/năm; 3 cơ sở sản xuất cát nghiền với tổng công suất thiết kế khoảng 1,16 triệu tấn/năm.
Việc phát triển cát nghiền từ nguồn đá phù hợp được xem là giải pháp bổ sung cốt liệu cho sản xuất bê tông, vữa xây dựng, góp phần giảm phụ thuộc vào cát tự nhiên. Tuy nhiên, khả năng ứng dụng cần căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế của từng công trình.
Thực tế, Ban Giao thông TP.HCM cho biết cát nghiền đã được sử dụng tại dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu và đáp ứng yêu cầu chất lượng. Đây là cơ sở thực tiễn để tiếp tục nghiên cứu, mở rộng ứng dụng loại vật liệu này tại những hạng mục phù hợp.
Cùng với phát triển nguồn cung, công tác quản lý và điều phối vật liệu cần được tổ chức đồng bộ. Đề án đặt ra yêu cầu xác định nhu cầu vật liệu từ giai đoạn chuẩn bị dự án, làm rõ nguồn cung, phương án vận chuyển và khả năng đáp ứng theo tiến độ thi công.
Ở góc độ chuyên môn, PGS.TS Tạ Ngọc Dũng, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đề xuất tổ chức chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng theo toàn bộ chuỗi giá trị, từ khai thác, sản xuất, lưu kho, vận chuyển, phân phối đến thi công và tái chế.
Theo ông, cần xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ về vị trí nhà máy, công suất, chất lượng vật liệu, tuyến vận chuyển và nhu cầu theo từng khu vực, làm cơ sở nghiên cứu hình thành bản đồ nguồn cung vật liệu xây dựng.
Giải pháp này sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý, chủ đầu tư và nhà thầu chủ động lựa chọn nguồn cung, hạn chế chi phí vận chuyển và nâng cao hiệu quả điều phối giữa các dự án.
Về giải pháp trước mắt, Ban Giao thông kiến nghị tiếp tục tháo gỡ thủ tục cấp phép, nâng công suất khai thác các mỏ vật liệu; công khai thông tin về trữ lượng, chất lượng và giá bán, đồng thời ưu tiên những nguồn có cự ly vận chuyển phù hợp.
Đối với giai đoạn 2027 - 2030, việc đưa nhu cầu cát xây dựng, cát san lấp và đất đắp vào kế hoạch điều phối dài hạn sẽ giúp các cơ quan, đơn vị chủ động hơn trong cân đối nguồn cung, tránh tình trạng nhiều công trình cùng tập trung nhu cầu vào một thời điểm.
Cùng với đó, tăng cường liên kết vùng, phát triển vật liệu thay thế và ứng dụng dữ liệu trong quản lý chuỗi cung ứng là những giải pháp cần được xem xét trong quá trình hoàn thiện Đề án.
Việc chủ động nguồn vật liệu ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư, kết hợp nâng cao năng lực khai thác, chế biến và điều phối sẽ góp phần hạn chế nguy cơ gián đoạn thi công, kiểm soát chi phí và bảo đảm tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm trên địa bàn TP.HCM.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận