Nhận bản tin miễn phí
Báo Xây dựng - Tin tức trong ngày, tin mới nhất, tin nhanh 24h Thị trường

Bộ Công thương dự báo gì về giá điện khí LNG tại Việt Nam?

Bộ Công thương dự báo gì về giá điện khí LNG tại Việt Nam?

-

Bộ Công thương dự báo giá LNG đến nhà máy điện giai đoạn 2027-2030 tại miền Bắc khoảng 15,5 USD/triệu BTU, cao hơn miền Nam 0,7 USD, trong bối cảnh thị trường nhiên liệu thế giới biến động mạnh.

Xung đột Trung Đông đẩy giá LNG tăng cao

Theo thông số tính toán khung giá phát điện năm 2025 của Bộ Công thương, giá LNG nhập khẩu ở mức 14,05 USD/triệu BTU. Cộng chi phí vận chuyển, lưu trữ, tái hóa khí và phân phối khoảng 2,59 USD/triệu BTU, giá LNG đến cổng nhà máy điện đạt 16,64 USD/triệu BTU.

Tuy nhiên, từ đầu năm 2025 đến giữa năm 2026, giá LNG trên thị trường quốc tế biến động mạnh, trái với xu hướng giảm được dự báo trước đó, đặc biệt khi xung đột Trung Đông làm gia tăng nguy cơ gián đoạn nguồn cung và vận tải biển.

Bộ Công thương dự báo gì về giá điện khí LNG tại Việt Nam? - Ảnh 1.

Dẫn báo cáo của Reuters, Viện Năng lượng, Bộ Công thương cho hay, năm 2025, giá LNG giao ngay tại Đông Bắc Á chủ yếu dao động trong khoảng 11-14 USD/triệu BTU. Bên cạnh đó, báo cáo tháng 10/2025 của Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho thấy, giá LNG nhập khẩu bình quân tại Nhật Bản giảm từ 14,4 USD/triệu BTU năm 2023 xuống 12,8 USD năm 2024. Tổ chức này dự báo giá tiếp tục giảm còn 11,5 USD năm 2026 và 10,5 USD năm 2027.

Song, diễn biến thị trường năm 2026 đã làm thay đổi đáng kể triển vọng này. Theo Reuters, giữa tháng 1/2026, giá LNG giao tháng 3 vào Đông Bắc Á đạt 10,1 USD/triệu BTU, tăng 6% so với tuần trước đó do dự báo thời tiết lạnh tại Đông Bắc Á và châu Âu. Đến đầu tháng 3, khi nguồn cung từ Trung Đông bị gián đoạn, giá LNG chuẩn tại châu Á tăng lên khoảng 12,95 USD/triệu BTU.

Đà tăng tiếp diễn khi căng thẳng địa chính trị lan rộng sang các tuyến hàng hải quan trọng. Cuối tháng 7/2026, giá LNG giao ngay tại Đông Bắc Á lên khoảng 22 USD/triệu BTU. Cùng thời điểm, dữ liệu của S&P Global cho thấy chỉ số JKM, phản ánh giá LNG giao ngay đến các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan, dao động 21,3-21,4 USD/triệu BTU, chưa bao gồm chi phí tái hóa khí và vận chuyển đến nhà máy điện.

Biến động này khiến Ngân hàng Thế giới (World Bank) điều chỉnh dự báo giá LNG nhập khẩu bình quân tại Nhật Bản năm 2026 từ 11,5 lên 16 USD/triệu BTU, tăng khoảng 39% so với dự báo tháng 10/2025.

Dự báo dựa trên giả định gián đoạn thương mại nghiêm trọng sớm kết thúc, vận tải qua các tuyến hàng hải trọng yếu dần phục hồi trong năm 2026. Tuy nhiên, khả năng giá LNG hạ nhiệt vẫn phụ thuộc vào diễn biến xung đột và tốc độ khôi phục nguồn cung.

Nguồn cung mới có thể kéo giảm giá LNG sau năm 2028

Xung đột Trung Đông không chỉ đẩy giá LNG tăng cao trong ngắn hạn mà còn làm thay đổi triển vọng thị trường trong những năm tới.

Theo báo cáo Gas Market Report quý II/2026, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết, trước xung đột, thế giới dự kiến bổ sung công suất hóa lỏng LNG tương đương 345 tỷ m³ khí tự nhiên mỗi năm đến năm 2030, giúp tăng nguồn cung và tạo điều kiện để giá giảm. Tuy nhiên, gián đoạn vận chuyển qua eo biển Hormuz cùng thiệt hại hạ tầng hóa lỏng tại Qatar đã làm chậm quá trình này.

IEA nhận định, tác động của làn sóng nguồn cung LNG mới có thể bị trì hoãn ít nhất hai năm. Tổng lượng LNG thiếu hụt giai đoạn 2026-2030 được ước tính khoảng 120 tỷ m³ trong báo cáo quý II/2026, sau đó điều chỉnh lên 140 tỷ m³ tại báo cáo quý III.

Dù vậy, tác động nghiêm trọng nhất dự kiến tập trung trong giai đoạn 2026-2027. Từ năm 2028, khi các dự án LNG mới tại Bắc Mỹ và những khu vực khác lần lượt vận hành, nguồn cung có thể cải thiện, giúp thị trường dần cân bằng.

Về dài hạn, Viện Nghiên cứu Năng lượng Oxford (Oxford Institute for Energy Studies) nhận định, giá LNG giao ngay có thể tương đối ổn định trong giai đoạn 2030-2040 và tăng nhẹ giai đoạn 2040-2050 nếu nhu cầu khí duy trì ở mức cao.

Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu của World Bank, IEA và Oxford Institute for Energy Studies, Bộ Công thương đề xuất giả định giá LNG nhập khẩu vào Việt Nam ở mức 13 USD/triệu BTU giai đoạn 2027-2030, giảm còn 11 USD giai đoạn 2030-2040 và tăng nhẹ lên 12 USD giai đoạn 2040-2050.

Tuy nhiên, đây mới là giá LNG nhập khẩu, chưa bao gồm chi phí dỡ hàng, lưu trữ, tái hóa khí và vận chuyển đến nhà máy điện.

Theo Viện Năng lượng, chi phí đưa LNG đến nhà máy điện phụ thuộc lớn vào vị trí và hạ tầng dự án. Miền Nam có lợi thế từ kho LNG Thị Vải, hệ thống đường ống và các trung tâm điện khí hiện hữu, trong khi miền Bắc và Bắc Trung Bộ phải đầu tư mới hạ tầng tiếp nhận, lưu trữ, tái hóa khí và vận chuyển.

Ước tính, các chi phí trung gian có thể làm tăng giá LNG tại cổng nhà máy thêm 1,46-2,95 USD/triệu BTU, tùy quy mô và vị trí dự án.

Với giả định chi phí hạ tầng tại miền Bắc là 2,5 USD/triệu BTU, cao hơn mức 1,8 USD tại miền Nam, Bộ Công thương dự báo giá LNG đến cổng nhà máy điện miền Bắc giai đoạn 2027-2030 ở mức 15,5 USD/triệu BTU, so với 14,8 USD tại miền Nam.

Sang giai đoạn 2030-2040, giá dự kiến giảm còn lần lượt 13,5 USD và 12,8 USD/triệu BTU, trước khi tăng nhẹ lên 14,5 USD và 13,8 USD/triệu BTU trong giai đoạn 2040-2050.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đề xuất phát triển 15 dự án điện khí LNG với tổng công suất hơn 25,6 GW. Trong đó, Nhơn Trạch 3 và 4 (1.624MW) đã vận hành, Hiệp Phước giai đoạn 1 (1.200MW), Quảng Trạch II đang xây dựng.

12 dự án còn lại, tổng công suất 22,8GW, đã được chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa khởi công, chủ yếu do vướng mắc đàm phán hợp đồng mua bán điện và khó đặt hàng tuabin khi nhu cầu toàn cầu tăng cao.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.