Nhận bản tin miễn phí
Báo Xây dựng - Tin tức trong ngày, tin mới nhất, tin nhanh 24h Âm nhạc

Cú sốc bản quyền từ vụ 5 doanh nghiệp bị khởi tố: “Đăng cho vui” cũng có thể vi phạm

Cú sốc bản quyền từ vụ 5 doanh nghiệp bị khởi tố: “Đăng cho vui” cũng có thể vi phạm

-

Theo luật sư Nguyễn Thanh Hà, nhiều đơn vị phòng trà, tụ điểm biểu diễn ca nhạc hiện vẫn nhầm lẫn giữa quyền biểu diễn và quyền phát hành video trên nền tảng số. Đây cũng là nguyên nhân khiến không ít đơn vị vô tình vi phạm bản quyền âm nhạc.

Vụ việc 5 doanh nghiệp gồm BH Media, Lululola, 1900 Group, Mây Sài Gòn và Giọng ca để đời bị khởi tố về hành vi "xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan", quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự gây rúng động dư luận trong những ngày qua.

Từ vụ việc này, câu chuyện bản quyền âm nhạc trên nền tảng số tiếp tục trở thành tâm điểm chú ý. Đặc biệt trong bối cảnh nhiều phòng trà, sân khấu acoustic, đơn vị sản xuất nội dung và creator vẫn duy trì thói quen quay, đăng tải các tiết mục biểu diễn lên YouTube, TikTok, Facebook như một hình thức quảng bá hoặc lưu giữ kỷ niệm.

Cú sốc bản quyền từ vụ 5 doanh nghiệp bị khởi tố: “Đăng cho vui” cũng có thể vi phạm- Ảnh 1.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty luật SBLAW.

Trao đổi với Báo Xây dựng, Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty luật SBLAW cho rằng phía sau những video tưởng chừng "đăng cho vui" là nhiều lớp quyền pháp lý độc lập, và không ít đơn vị hiện đang hoạt động trong một "vùng xám" pháp lý mà chính họ cũng chưa nhận thức đầy đủ.

"Đăng cho vui" không là lý do miễn trừ vi phạm bản quyền

Thưa luật sư Nguyễn Thanh Hà, pháp luật hiện phân biệt như thế nào giữa quyền biểu diễn với quyền ghi hình, sao chép và phát hành trên nền tảng số? 

Trước hết, để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cần phải biết rằng bất kì tác phẩm âm nhạc nào khi được đưa lên nền tảng số chứa đựng đồng thời ba quyền độc lập, tồn tại song song và không bao hàm lẫn nhau. 

Trong đó, quyền đầu tiên là quyền tác giả, thuộc về nhạc sĩ sáng tác giai điệu và người viết lời. Căn cứ theo Điều 19 và Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2025, quyền này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Theo nguyên tắc bảo hộ tự động của Công ước Berne, quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được ra đời mà không cần tiến hành thủ tục đăng kí quyền tác giả. 

Quyền thứ hai là quyền của người biểu diễn, thuộc về người trực tiếp thể hiện tác phẩm theo Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2025. 

Quyền này tồn tại độc lập với quyền tác giả, bao gồm quyền được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng quyền biểu diễn, cũng như được bảo vệ danh dự và uy tín dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến, và quyền tài sản đối với việc định hình, sao chép, phát hành cuộc biểu diễn trên mọi phương tiện kỹ thuật số. 

Tức là dù một doanh nghiệp đã được nhạc sĩ ủy quyền, họ vẫn không thể sử dụng bản thu âm giọng hát của ca sĩ nếu chưa có sự đồng ý riêng từ ca sĩ đó. 

Quyền thứ ba là quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, thuộc về hãng thu âm hoặc công ty sản xuất, căn cứ theo Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ 2025. Điểm khác biệt của quyền này so với hai quyền nêu trên là nhà sản xuất chỉ có quyền tài sản, và chỉ được bảo hộ bản ghi cụ thể mà họ đầu tư sản xuất, không bảo hộ giai điệu hay lời bài hát. 

Từ thực tiễn các vụ việc trên, tôi cho rằng điều đáng lưu ý nhất là hệ thống Content ID hay cơ chế "claim" (tạm dịch: khiếu nại) trên nền tảng số chỉ là công cụ kỹ thuật để nhận diện và quản lý nội dung mà không tạo ra quyền pháp lý, cũng như không xác nhận tư cách chủ thể quyền. 

Việc những doanh nghiệp này thu lợi từ những "claim" mà không có cơ sở ủy quyền hợp pháp chính là yếu tố "thu lợi bất chính" theo Điều 225 Bộ luật Hình sự. Vụ khởi tố 5 doanh nghiệp trên cho chúng ta thấy pháp luật Việt Nam đã và đang nỗ lực xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm bản quyền có tổ chức, có mục đích thu lợi. 

Cú sốc bản quyền từ vụ 5 doanh nghiệp bị khởi tố: “Đăng cho vui” cũng có thể vi phạm- Ảnh 3.

Theo luật sư Nguyễn Thanh Hà, nhiều video cover tưởng chỉ “đăng cho vui” thực tế có thể đã vi phạm pháp luật.

Với mô hình phòng trà/acoustic hiện nay, khi ca sĩ hoặc thậm chí khán giả lên cover (hát lại) một ca khúc, đơn vị tổ chức/ chủ phòng trà có được phép quay lại rồi đăng lên mạng không, thưa luật sư? Nhiều người cho rằng họ chỉ đăng video "cho vui", "để làm kỷ niệm", "để quảng bá sân khấu", hoặc kênh không bật kiếm tiền thì sẽ không vi phạm. Xin luật sư cho biết, quan điểm này đúng hay sai về mặt pháp lý? 

Tôi cho rằng quan điểm này là sai về mặt pháp lý. Căn cứ theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2025, quyền tài sản của tác giả bao gồm quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng bằng bất kỳ phương tiện nào, bao gồm cả việc đăng video lên mạng xã hội. Đây là hành vi cần có sự cho phép của chủ thể quyền, bất kể mục đích đăng tải là gì. 

Lý do nhiều người nhầm lẫn là vì họ đang lẫn lộn giữa việc biểu diễn trực tiếp tại phòng trà với việc ghi hình rồi phát tán lên môi trường số. Đây là hai hành vi pháp lý hoàn toàn khác nhau. 

Việc biểu diễn tại chỗ có thể được xử lý thông qua các thỏa thuận cấp phép tập thể - chẳng hạn qua Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam (VCPMC). 

Nhưng khi chủ phòng trà quay lại và đăng video đó lên YouTube, Facebook hay TikTok, họ đang thực hiện thêm một hành vi khai thác tác phẩm hoàn toàn mới, vì vậy, cần có ủy quyền riêng từ tác giả hoặc đơn vị quản lý quyền. 

Về lập luận "không bật kiếm tiền thì không vi phạm", tôi cho rằng đây là quan niệm sai phổ biến nhất. 

Luật Sở hữu trí tuệ không lấy việc thu lợi hay không thu lợi làm điều kiện để xác định hành vi xâm phạm. Chỉ cần hành vi sử dụng tác phẩm không được chủ thể quyền cho phép là đã cấu thành vi phạm, bất kể video đó có chạy quảng cáo hay không. 

Mục đích "làm kỷ niệm" hay "quảng bá sân khấu" càng không phải căn cứ miễn trừ trách nhiệm theo pháp luật hiện hành. 

Với trường hợp khán giả tự lên hát cover thì chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý không dừng lại ở người hát. Khi chủ phòng trà chủ động quay và đăng tải, họ là người thực hiện hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng, nên họ là người phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi đó. 

Tóm lại, muốn đăng video cover hợp pháp lên mạng, đơn vị tổ chức cần có một trong hai trác nhiệm sau: xin phép trực tiếp từ tác giả hoặc nhà xuất bản âm nhạc, hoặc thực hiện thông qua cơ chế cấp phép của tổ chức quản lý quyền tập thể có thẩm quyền. 

Vì sao nhiều phòng trà vô tình bước qua ranh giới vi phạm?

Theo anh, đâu là những "vùng xám" pháp lý khiến nhiều người kinh doanh phòng trà, tụ điểm ca nhạc hay creator (nhà sáng tạo nội dung) hiện nay vô tình bước qua ranh giới vi phạm mà không nhận ra? 

Theo tôi, có 4 vùng xám phổ biến nhất mà người làm live music, phòng trà hay content creator thường rơi vào mà không nhận ra. 

Vùng xám thứ nhất là ranh giới giữa biểu diễn trực tiếp và phát tán lên môi trường số. Nhiều chủ phòng trà nghĩ rằng đã trả phí cho VCPMC là xong, nhưng khoản phí đó thường chỉ bao phủ quyền biểu diễn tại chỗ. Khi họ livestream buổi diễn hoặc đăng lại video lên mạng xã hội, đó là một hành vi khai thác hoàn toàn mới, cần ủy quyền riêng. 

Hai việc này nghe có vẻ liền mạch nhưng về mặt pháp lý lại hoàn toàn tách biệt. Vùng xám thứ hai là nhận thức sai về "fair use" hay sử dụng hợp lý. 

Khái niệm này tồn tại trong pháp luật Hoa Kỳ và hay được người dùng mạng xã hội viện dẫn, nhưng Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam không áp dụng nguyên tắc fair use theo nghĩa đó. Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2025 có quy định một số trường hợp sử dụng tác phẩm không cần xin phép, nhưng phạm vi rất hẹp và không bao gồm việc đăng video cover lên mạng dù chỉ một đoạn ngắn. 

Vùng xám thứ ba là việc sử dụng nhạc nền trong video. Nhiều creator đặt một bài hát làm nền trong video vlog, review quán hay clip quảng bá sự kiện mà nghĩ rằng vì bài nhạc chỉ là "phụ", không phải nội dung chính, thì không vi phạm. 

Thực tế, chỉ cần tác phẩm âm nhạc xuất hiện trong video được phát tán công khai mà chưa được cấp phép, đã đủ yếu tố vi phạm quyền tác giả theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2025. 

Vùng xám thứ tư là nhầm lẫn về thời hạn bảo hộ. Nhiều người mặc nhiên cho rằng các bài hát cũ, nhạc tiền chiến hay dân ca là "nhạc xưa, không có bản quyền". Điều này chỉ đúng khi thời hạn bảo hộ đã thực sự hết, tức là 75 năm kể từ khi tác giả mất theo Luật Sở hữu trí tuệ 2025. 

Với nhiều nhạc sĩ Việt Nam, thời hạn này chưa kết thúc, và ngay cả khi tác phẩm hết bảo hộ, bản ghi âm cụ thể vẫn có thể còn đang trong thời hạn bảo hộ 50 năm của nhà sản xuất. 

Cú sốc bản quyền từ vụ 5 doanh nghiệp bị khởi tố: “Đăng cho vui” cũng có thể vi phạm- Ảnh 4.

Kênh YouTube của Phòng trà Bến Thành có 15.400 người đăng ký và 105 video được đăng tải.

Theo luật sư, các sân khấu, phòng trà, đơn vị sản xuất nội dung cần lưu điều ý gì để không vướng vi phạm trong bối cảnh siết bản quyền hiện nay? 

Từ góc độ pháp lý, tôi cho rằng có 4 điều các sân khấu, phòng trà và đơn vị sản xuất nội dung cần nắm rõ. 

Thứ nhất là phân biệt rõ từng loại giấy phép cho từng hành vi khai thác. Nhiều đơn vị hiện nay chỉ ký một hợp đồng với tổ chức quản lý quyền tập thể. 

Thực tế, giấy phép biểu diễn tại chỗ, giấy phép livestream, giấy phép đăng video lên mạng xã hội và giấy phép phát sóng là 4 loại hoàn toàn khác nhau, tương ứng với 4 hành vi khai thác khác nhau theo Điều 20 và Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2025. Ký thiếu một loại là vi phạm ở hành vi tương ứng. 

Thứ hai là xác lập hợp đồng rõ ràng với ca sĩ, nhạc công trước mỗi chương trình. Như đã phân tích ở trên, quyền của người biểu diễn là lớp quyền độc lập. Khi phòng trà mời ca sĩ biểu diễn rồi quay lại đăng lên mạng, nếu không có điều khoản nào trong hợp đồng cho phép việc đó, đơn vị tổ chức đang tự đặt mình vào rủi ro pháp lý, kể cả trong trường hợp ca sĩ đó có thể không phản ứng ngay lúc đó. 

Thứ ba là không phụ thuộc vào cơ chế kỹ thuật của nền tảng để đánh giá tính hợp pháp. Nhiều đơn vị sản xuất nội dung hiện nay quan niệm rằng nếu đăng video lên mà không bị hệ thống tự động gắn cờ bản quyền thì coi như không vi phạm. 

Đây là cách hiểu hết sức nguy hiểm. Hệ thống Content ID hay các công cụ tương tự chỉ nhận diện được những nội dung đã được đăng ký trong cơ sở dữ liệu của nền tảng. Việc không bị phát hiện không đồng nghĩa với việc hành vi đó hợp pháp. 

Cuối cùng là chủ động tìm đến tư vấn pháp lý trước khi triển khai mô hình kinh doanh, thay vì chờ đến khi có tranh chấp mới tìm luật sư. 

Thực tế cho thấy phần lớn các vi phạm bản quyền trong lĩnh vực âm nhạc số xuất phát từ sự thiếu hiểu biết chứ không phải cố ý. Vụ khởi tố hình sự vừa qua là lời nhắc nhở rằng chi phí tuân thủ pháp luật ngay từ đầu bao giờ cũng rẻ hơn nhiều so với hậu quả phải đối mặt về sau.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.