Cân nhắc vấn đề kỹ thuật, an ninh nguồn nước
Thưa KTS Trần Huy Ánh, với quy mô 11.000 ha và ảnh hưởng trực tiếp khoảng 40.000 dân, đâu mới là bài toán lớn nhất khi triển khai Đại lộ cảnh quan sông Hồng, kỹ thuật, chi phí hay tổ chức lại không gian dân cư?
Trước hết, cần nhìn nhận toàn diện rằng, dự án không chỉ là 11.000 ha hay 40.000 cư dân. Khu vực nghiên cứu nằm giữa hai tuyến đê sông Hồng đoạn qua trung tâm Hà Nội, nhưng thực tế diện tích này chỉ chiếm 1,2/1.000 so với toàn lưu vực rộng tới 88.860 km², nơi sinh sống của 32,5 triệu người.

KTS Trần Huy Ánh, Ủy viên thường vụ Hội KTS Hà Nội.
Dù chỉ hơn 44,6 km chiều dài, đoạn sông này lại kết nối thủy hệ với hàng chục con sông trong và ngoài lãnh thổ. Lưu vực có tổng lượng nước hơn 100 tỷ m³, lớn nhất cả nước, vượt xa lưu vực Đồng Nai. Điều đó có nghĩa bất cứ thay đổi nào tại đây đều không chỉ tác động đến Hà Nội, mà còn ảnh hưởng an toàn của hàng chục triệu người tại đồng bằng Bắc Bộ.
Vì vậy, thách thức lớn nhất của dự án không nằm ở kỹ thuật hay chi phí riêng lẻ, mà ở việc nhận diện đầy đủ cơ hội, rủi ro trong mối liên thông tự nhiên, sinh kế và an ninh nguồn nước, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mưa lũ cực đoan và các biến động địa kinh tế, địa chính trị trong khu vực.
Một dự án ở trung tâm Thủ đô, nhưng liên quan 1/3 dân số cả nước đòi hỏi tư duy vượt khỏi ranh giới hành chính, tiếp cận ở tầm quốc gia. Nếu không, chúng ta có thể tạo ra rủi ro lâu dài đối với toàn hệ thống sông ngòi Bắc Bộ.
Dự án đặt mục tiêu giảm ùn tắc, giảm ô nhiễm, vừa chỉnh trang đô thị, vừa chống úng ngập. Theo ông, đâu là thách thức kỹ thuật quan trọng nhất khi muốn đạt cùng lúc bốn mục tiêu?
Trong 20 năm qua, Hà Nội liên tục đối mặt ùn tắc, ô nhiễm và úng ngập. Điều đặc biệt là trong mọi kịch bản, sông Hồng luôn là "lối thoát cuối cùng" của toàn bộ hệ thống thoát nước.
Năm 2008, Hà Nội phải vận hành trạm bơm Yên Sở liên tục cả tháng mới bơm hết nước ra sông. Đến nay, dù có 26 trạm bơm, mọi dòng nước mưa, nước thải cuối cùng vẫn dồn về sông Hồng.

Vùng nghiên cứu dự án (khung chữ nhật màu đỏ) trong tổng thể lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Bản đồ biên tập từ Báo cáo Quy hoạch tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2022. Ảnh: KTS Trần Huy Ánh.
Hơn 3 tỷ USD đã đầu tư cho thoát nước và xử lý nước thải, nhưng ô nhiễm vẫn lan rộng; ngập ở chỗ này lại dồn sang chỗ khác. Ngay cả khi nhà máy xử lý nước thải lớn nhất hoàn thành, sông Tô Lịch vẫn ô nhiễm nặng, buộc thành phố phải chi gần 900 tỷ đồng để lấy nước sông Hồng thau rửa.
Điều này cho thấy sông Hồng đang gánh toàn bộ nhiệm vụ điều tiết, làm sạch của cả hệ thống. Vì vậy, câu hỏi lớn nhất là nếu sông Hồng bị thu hẹp không gian thoát lũ, bị ô nhiễm hoặc suy giảm khả năng tự tái sinh, ai sẽ "giải cứu" sông Hồng? Và khi đó, số phận các sông nội đô sẽ ra sao?
Theo Quyết định 257/QĐ-TTg, không gian thoát lũ phải được giữ nguyên: Không nâng đê bối; không xây dựng mới; không thu hẹp mặt cắt thoát lũ; không tạo đê mới trong đê cũ. Tuy nhiên, một số đề xuất hiện nay lại tạo thêm khối tích công trình trong lòng sông, hoàn toàn đi ngược các nguyên tắc bắt buộc này.
Nếu không tính toán kỹ, dự án không những không giải quyết được ùn tắc, ô nhiễm hay úng ngập, mà còn gia tăng rủi ro, đặt hàng triệu cư dân vào vùng nguy hiểm.
Tính toán phương án chỗ ở cho người dân
Hà Nội đặt mục tiêu khởi công dự án tháng 12/2025. Ở góc độ chuyên môn, ông đánh giá khả năng hiện thực hóa mốc thời gian này ra sao?
Mốc ngày 19/12/2025 có thể đạt được nếu lựa chọn phương án triển khai linh hoạt, giống cách một số dự án đường sắt đô thị rút gọn hồ sơ từ BIM (mô hình thông tin công trình) xuống FEED (thiết kế kỹ thuật tổng thể) để khởi công trước, rồi hoàn thiện chi tiết kỹ thuật sau. Đây là hướng tiếp cận phù hợp khi nguồn vốn vẫn chưa thật rõ ràng.
Tuy nhiên, bài toán phức tạp nhất nằm ở không gian hai bên bờ sông, nơi tồn tại hơn 70 năm, với gần 300.000 cư dân đang sinh sống trong lòng hai tuyến đê. Dù Quyết định 257/QĐ-TTg đã xác định nhu cầu ổn định làng xóm và xử lý lấn chiếm, nhưng Hà Nội trước đây không đủ quỹ đất và nguồn lực để thực hiện.
Hiện nay, sự phát triển của các khu đô thị mới là cơ hội vàng để bố trí chỗ ở an toàn, tiện nghi, lâu dài cho cư dân hai bờ. Cùng lúc, việc tái định cư này cũng giúp giải phóng và "kích hoạt" hàng loạt dự án dang dở quanh Hà Nội vốn thiếu dân cư, tạo động lực phát triển tổng thể cho toàn vùng Thủ đô.
Gìn giữ bản sắc, văn hóa lịch sử sông Hồng
Theo quy hoạch, dự án dự kiến hình thành 8 công viên cảnh quan và 12 công viên chuyên đề với tổng diện tích hơn 3.000 ha. Nguyên tắc thiết kế nào cần được đảm bảo để vừa giữ bản sắc văn hóa, lịch sử của sông Hồng, vừa tạo nên đại lộ có tầm vóc quốc tế, thưa ông?
Tôi cho rằng, toàn bộ hành lang thoát lũ hoàn toàn có thể trở thành không gian xanh đặc trưng của "Hà Nội - Thành phố trong Sông". Bản sắc lớn nhất của Thủ đô không nằm ở những công trình nhân tạo, mà ở dòng sông Hồng đầy ắp nước sạch, an toàn mùa lũ và đủ nước mùa cạn, thứ đã nuôi sống văn minh sông Hồng hàng nghìn năm.

Từ ngàn năm trước, cư dân Việt đã coi sông Hồng như sông Cái - sông Mẹ, bởi chính dòng nước đỏ nặng phù sa này đã nuôi dưỡng những làng nghề, những bãi bồi, những xóm chài và cả kinh đô Thăng Long xưa. Ảnh: Tiến Hào
Một hình mẫu lý tưởng đã tồn tại ngay giữa Hà Nội: Bãi giữa sông Hồng, nơi hệ sinh thái tự nhiên được bảo tồn, hồi phục nhanh sau mỗi đợt lũ, trở thành không gian rừng cộng đồng, nghệ thuật và sáng tạo mà không tốn ngân sách đầu tư hay vận hành.
Chính mô hình này thu hút sự quan tâm của các đại sứ quán và nhiều đoàn nghiên cứu quốc tế. Nó chứng minh rằng, bảo tồn tự nhiên và trao quyền cho cộng đồng có thể tạo nên cảnh quan bền vững và giàu bản sắc hơn bất kỳ can thiệp nhân tạo nào.
Vậy Hà Nội cần tiếp cận thế nào để biến sông Hồng từ vùng nguy cơ thành một "tài sản đô thị" đúng nghĩa, thưa ông?
Chỉ đạo của Thủ tướng đã đặt mặt nước là ưu tiên hàng đầu, đồng thời mở rộng tư duy không gian đến cả không gian vũ trụ, tức là yêu cầu về tầm nhìn phải vượt xa lợi ích ngắn hạn hay các mục tiêu cục bộ.
Sông Cái - sông Mẹ là tên gọi cổ từ thuở hồng hoang. Khi xây hệ thống đê, không gian thoát lũ trở thành công sản của toàn dân, được bảo vệ bằng cả pháp lý lẫn đạo lý. Ngày nay, muốn bảo vệ công sản, phải ứng dụng công nghệ. Cụ thể, việc quản trị đất đai, đô thị cần được số hóa ngay từ khảo sát bằng: GIS (Hệ thống thông tin địa lý, BIM (Mô hình thông tin công trình).
Với sự chỉ đạo của Thủ tướng, hy vọng Hà Nội trong kỷ nguyên mới sẽ đáp ứng các mục tiêu đã đặt ra. Và chỉ có ứng dụng công nghệ BIM, GIS thì tài sản công sẽ được bảo toàn và phát huy giá trị, nếu chỉ làm theo cách cũ, nguy cơ công sản biến thành tư hữu rất cao .
Những mục tiêu phát triển bền vững lâu dài sẽ bị những đề xuất còn nhiều hạn chế cản trở và làm chậm tiến trình phát triển chung. Bên cạnh các yêu cầu tăng trưởng, Hà Nội còn là một phần không tách rời của cộng đồng tân tiến toàn cầu, trong tất cả dự án phát triển lấy tiêu chuẩn CSR (trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp) làm thước đo đánh giá.
Đó là mục tiêu phát triển đồng bộ, lấy chỉ số phát triển kinh tế không tách rời chỉ số môi trường xã hội và quản trị, gọi tắt là chỉ số ESG (Environment, Social and Governance) đã được cộng đồng quốc tế lấy làm giá trị chung.
Cảm ơn ông!
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận