Phát biểu tại phiên họp, các đại biểu ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ trong việc chuẩn bị dự án luật có phạm vi rộng với tinh thần đổi mới, kiến tạo phát triển, phân cấp phân quyền mạnh mẽ. Tuy nhiên, từ thực tiễn quản lý và phát triển đô thị, các ý kiến phân tích nhiều vấn đề cốt lõi nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, đảm bảo an toàn pháp lý và tạo động lực tăng trưởng mới.
Tổ chức không gian phát triển: Có thể còn khoảng trống pháp lý ở vùng Đông Nam Bộ
Đại biểu Tô Ái Vang (đoàn Cần Thơ) cho rằng, nhằm thể chế hóa Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị bền vững, qua nghiên cứu hồ sơ dự thảo luật, cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định.

Đại biểu Tô Ái Vang (đoàn Cần Thơ). Ảnh: media Quốc hội.
Theo đại biểu Tô Ái Vang, tại điểm c khoản 3 Điều 38 quy định bảo đảm thống nhất trong tổ chức không gian phát triển, đầu tư hạ tầng kỹ thuật chung và thực hiện liên kết giữa thành phố và các địa phương trong vùng đô thị đặc biệt, phù hợp với quy hoạch quốc gia, quy hoạch tổng thể thành phố, quy hoạch tỉnh. Tuy nhiên, quy định trên chưa đề cập đến quy hoạch vùng Đông Nam Bộ theo Luật Quy hoạch, từ đó có thể tạo khoảng trống pháp lý.
Theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và các luật liên quan, đặc biệt là Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đại biểu Tô Ái Vang kiến nghị dự thảo luật làm rõ mối quan hệ và thứ bậc quy hoạch; đồng thời bổ sung một khoản quy định về quy hoạch phát triển đô thị vùng, vùng đô thị đặc biệt, trong đó quy định tiêu chí xác định ranh giới cụ thể.
Về liên kết phát triển vùng và phát triển kinh tế biển, đại biểu đề nghị tại Mục 7 Chương II về liên kết phát triển vùng, dự thảo luật xem xét bổ sung một điều quy định chính sách phát triển kinh tế biển và quản lý không gian đô thị đặc thù.
Tại Mục 4 Chương III về phát triển kinh tế biển, đại biểu Tô Ái Vang đề xuất xem xét bổ sung một điều quy định liên kết đô thị ven biển gắn với phát triển kinh tế biển lưỡng dụng và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đồng thời, tại Điều 2, đại biểu đề nghị bổ sung một khoản giải thích về liên kết đô thị ven biển và kinh tế biển lưỡng dụng.
Theo đại biểu Tô Ái Vang, việc này nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Đảng về phát triển không gian và kinh tế biển cùng với Luật Biển Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết số 26 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Bên cạnh đó, Việt Nam có địa chính trị và địa kinh tế đặc thù, sở hữu hơn 3.200km bờ biển với hơn 4.000 đảo và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chạy qua 21 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nằm kế cận tám quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu vực Biển Đông. Đây vừa là cơ hội mở rộng giao thương quốc tế, vừa là phên giậu quan trọng trước các biến động an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Khi thành phố Hồ Chí Minh là đô thị hạt nhân, nhà điều phối chuỗi cung ứng, là tâm điểm cùng các tỉnh, thành phố kết nối dải đô thị ven biển, kết hợp với ngân sách Trung ương ưu tiên đầu tư toàn diện trục giao thông ven biển và hạ tầng số liên vùng sẽ tạo nên chuỗi giá trị kinh tế biển liên hoàn từ Bắc vào Nam, thúc đẩy các địa phương cùng phát triển, đồng thời thiết lập thế trận phòng thủ vững chắc.
Đại biểu Tô Ái Vang cho rằng, cách tiếp cận này cũng giúp thành phố Hồ Chí Minh mở rộng trần tăng trưởng cho dịch vụ cao cấp, tài chính và công nghệ cao, đồng thời giảm áp lực về dân số, hạ tầng và môi trường.
Chú ý cơ chế cho các đô thị trực thuộc Trung ương nhưng chưa là đô thị đặc biệt
Góp ý về dự án Luật Phát triển đô thị, đại biểu Phạm Văn Thịnh (đoàn Bắc Ninh) cho rằng, luật đang được các địa phương, nhất là các đơn vị mới sáp nhập và sẽ được công nhận là đô thị trực thuộc Trung ương, mong đợi.

Đại biểu Phạm Văn Thịnh (đoàn Bắc Ninh). Ảnh: media Quốc hội.
Theo đại biểu Phạm Văn Thịnh, luật sẽ mở ra các cơ chế, chính sách về đầu tư, xây dựng, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế cho các địa phương, đồng thời phân cấp mạnh mẽ, triệt để thẩm quyền của Chính phủ cho địa phương.
Các địa phương được hưởng lợi nhiều nhất sẽ là những địa phương hiện có quy mô phát triển công nghiệp lớn như: Hải Phòng, Đồng Nai, Bắc Ninh... Đây là những đầu tàu công nghiệp nhưng chưa được hưởng cơ chế đặc thù của đô thị đặc biệt.
Trong bối cảnh hiện nay, đại biểu Thịnh cho rằng rất cần những cơ chế, chính sách mới để có thể cạnh tranh quốc tế về thu hút dòng vốn, công nghệ, nhân lực, những yếu tố cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước hai con số.
Tuy nhiên, để luật ngay khi được thông qua có thể triển khai ngay tại các thành phố động lực mới được thành lập nhưng chưa được công nhận là đô thị đặc biệt như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, đại biểu Phạm Văn Thịnh đề nghị tiếp tục rà soát một số quy định.
Cụ thể, tại Điều 1 về phạm vi điều chỉnh, khoản 3 Điều 1 quy định thành phố khác chưa được công nhận là đô thị đặc biệt được áp dụng một số cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại luật này, trong trường hợp có chủ trương của cấp có thẩm quyền, phù hợp với điều kiện đặc thù, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng thành phố.
Tại khoản 5 Điều 1 quy định Chính phủ quy định phạm vi, cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt cho các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.
Theo đại biểu, quy định như vậy sẽ dẫn tới việc các thành phố trực thuộc Trung ương nhưng chưa phải là đô thị đặc biệt chưa được triển khai các cơ chế, chính sách quy định tại luật dù chỉ một phần, do phải có chủ trương của cấp có thẩm quyền và phải phù hợp với điều kiện đặc thù, yêu cầu phát triển, năng lực thực thi của từng thành phố.
Đồng thời, theo khoản 5, các thành phố chưa phải là đô thị đặc biệt cần tiếp tục có quy định của Chính phủ về phạm vi áp dụng cơ chế, chính sách thì mới có thể triển khai trong thực tiễn.
Đại biểu Phạm Văn Thịnh đưa ra hai phương án. Phương án một là các thành phố chưa phải là đô thị đặc biệt được thực hiện một số cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị nêu trong luật, không cần thêm điều kiện phải có chủ trương của cấp có thẩm quyền và không cần có quy định về phạm vi áp dụng của Chính phủ.
Phương án hai là vẫn giữ yêu cầu cần có chủ trương của cấp có thẩm quyền nhưng bỏ yêu cầu phải có quy định về phạm vi áp dụng; đồng thời cố gắng cụ thể hóa, lượng hóa tiêu chí về điều kiện và yêu cầu phát triển để một thành phố không phải là đô thị đặc biệt được áp dụng một số chính sách của luật.
Về khoản 3, khoản 4 Điều 1 quy định các thành phố chưa được công nhận là đô thị đặc biệt và khu kinh tế đặc biệt của tỉnh, thành phố được áp dụng một số cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại luật, trừ quy định tại khoản 2 Điều 7, đại biểu Phạm Văn Thịnh cho rằng cần tiếp tục chỉnh sửa.
Khoản 2 Điều 7 có hai điểm, trong đó điểm a quy định chính quyền địa phương được ban hành thủ tục hành chính để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức thuộc thành phố.
Điểm b quy định chính quyền thành phố được quy định biện pháp đặc thù phù hợp với yêu cầu phát triển thành phố mà khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ.
Nếu những thành phố chưa là đô thị đặc biệt không được thực hiện điểm a khoản 2 Điều 7 thì các chính sách sẽ bị vướng, bởi nếu không được ban hành thủ tục hành chính cho các thẩm quyền được phân cấp mới thì không thể triển khai trong thực tế.
Vì vậy, đại biểu Thịnh đề xuất sửa khoản 3, khoản 4 Điều 1 từ cụm từ "trừ khoản 2 Điều 7" thành "trừ điểm b khoản 2 Điều 7", còn điểm a vẫn để cho các địa phương thực hiện.
Về Điều 2 giải thích từ ngữ, tại khoản 4 quy định "Khu thương mại tự do là khu vực có ranh giới địa lý xác định". Đại biểu Phạm Văn Thịnh đề nghị sửa thành: "Khu thương mại tự do là một hoặc nhiều khu vực có ranh giới địa lý xác định, tiếp giáp hoặc không tiếp giáp nhau".
Theo đại biểu Phạm Văn Thịnh, quy định này sẽ tạo điều kiện để địa phương tận dụng các khu vực hạ tầng và lợi thế hiện có để hình thành khu thương mại tự do, thay vì phải thành lập một khu vực hoàn toàn mới.
Qua đó, có thể rút ngắn thời gian chuẩn bị, giảm nguồn lực đầu tư ban đầu và sớm đưa các cơ chế, chính sách vượt trội vào thực tiễn.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận