Tiềm năng lớn
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, công suất điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu điện trong nước dự kiến đạt khoảng 6.000 - 17.032 MW giai đoạn 2030 - 2035 và tăng lên 113.503 - 139.097 MW vào năm 2050.
Đối với sản xuất năng lượng mới, công suất điện gió ngoài khơi được định hướng đạt khoảng 15.000 MW vào năm 2035 và khoảng 240.000 MW vào năm 2050.

Một dự án điện gió ngoài khơi do IPC đầu tư.
Báo cáo của Bộ Công thương cho thấy, các dự án điện gió ngoài khơi đều chậm tiến độ so với mốc vận hành sau năm 2030. Cùng với sự chậm trễ của nhiều nguồn điện khác, tình trạng này có thể ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm cung ứng điện trong những năm tới, đặc biệt tại khu vực miền Bắc.
Thực tế, thị trường điện gió ngoài khơi Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế từ khá sớm. Năm 2017, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã tìm kiếm cơ hội phát triển dự án tại Việt Nam.
Đến năm 2021, Ngân hàng Thế giới nhận định, Việt Nam có tiềm năng phát triển 35.000 - 70.000 MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030 nếu có chính sách phù hợp. Đánh giá này tiếp tục thu hút sự quan tâm của nhiều tập đoàn năng lượng lớn đến từ Đan Mạch, Nhật Bản, Australia, Hoa Kỳ...
Giai đoạn 2022 - 2023, hoạt động khảo sát diễn ra sôi động tại nhiều tỉnh ven biển phía Nam. Nhiều khu vực được doanh nghiệp đăng ký nghiên cứu. Đến nay, khoảng 10 vị trí đã được cấp phép khảo sát biển hoặc đo gió.
Tuy nhiên, theo TS Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chính sách chưa theo kịp sự quan tâm của thị trường. Đây là điểm nghẽn lớn nhất làm chậm tiến độ phát triển điện gió ngoài khơi.
Theo ông Toán, ngay cả khi doanh nghiệp đã được chấp thuận khảo sát, thu thập dữ liệu gió ngoài khơi, vẫn chưa có cơ chế pháp lý bảo đảm quyền ưu tiên cho những đơn vị đã đầu tư hàng tỷ USD vào công tác khảo sát.
Cùng đó, nhiều vấn đề như quy hoạch không gian biển dành cho điện gió ngoài khơi, cơ chế giao khu vực biển, quy trình lựa chọn nhà đầu tư, đấu nối hạ tầng truyền tải hay chia sẻ dữ liệu khảo sát vẫn chưa được hoàn thiện. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp tiếp tục thận trọng.
Thiếu cơ quan chịu trách nhiệm toàn diện
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Ngọc Tú, Giám đốc Kinh doanh và Phát triển dự án Công ty cổ phần Xây dựng Công trình IPC cho rằng, khung pháp lý cho điện gió ngoài khơi hiện vẫn phân tán ở nhiều luật khác nhau như: Luật Điện lực, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đất đai...
"Mỗi bộ, ngành chỉ phụ trách một phần thẩm quyền. Không có cơ quan nào chịu trách nhiệm toàn diện và xuyên suốt. Hệ quả không chỉ là thủ tục kéo dài, mà còn làm chậm sự hình thành và phát triển của cả một ngành công nghiệp mới", ông Tú nhận định.
Theo TS. Dư Văn Toán, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của Na Uy, Đức và Trung Quốc trong quy hoạch, quản trị không gian biển; đồng thời học hỏi Đan Mạch, Hà Lan và Anh về phát triển hệ sinh thái công nghiệp điện gió ngoài khơi, từ công nghệ, cảng biển, chuỗi cung ứng đến đào tạo nhân lực.
Ông cũng cho rằng, cơ chế "một cửa" trong cấp phép dự án mà Đan Mạch và Nhật Bản đang áp dụng là kinh nghiệm đáng tham khảo. Mô hình này giúp nhà đầu tư chỉ làm việc với một đầu mối, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị dự án.
Theo ông Tú, bất cập còn nằm ở cách phân bổ không gian biển. Hiện nay, mỗi đề xuất dự án đều được xem xét riêng lẻ. Cơ quan quản lý lấy ý kiến về quốc phòng, an ninh và đánh giá khả năng chồng lấn với các ngành kinh tế biển khác, nhưng chưa dựa trên một quy hoạch tổng thể được xây dựng từ các kết quả điều tra, khảo sát kỹ thuật.
Hệ quả là các trang trại gió có thể được bố trí rời rạc, không tận dụng tối ưu điều kiện gió. Hành lang kỹ thuật giữa các lô chưa được tính toán đầy đủ. Hệ thống cáp ngầm và trạm biến áp dùng chung cũng thiếu quy hoạch đồng bộ. Cùng một diện tích mặt biển nhưng hiệu quả khai thác năng lượng có thể thấp hơn đáng kể so với thông lệ quốc tế.
Theo ông Tú, thách thức sẽ còn lớn hơn khi các dự án đi vào vận hành. Khi đó, cơ quan quản lý phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề như xung đột không gian biển giữa các nhà đầu tư và các ngành kinh tế khác; bảo đảm an toàn cho hàng chục công trình ngoài khơi hoạt động cùng lúc; kiểm soát rủi ro môi trường trong suốt vòng đời dự án kéo dài 20 - 30 năm; xử lý các vấn đề pháp lý từ hợp đồng quốc tế cũng như bảo đảm nguồn lực tài chính để tháo dỡ, thu dọn các công trình khi dự án kết thúc.
Cần khung chính sách ổn định, khả thi
Theo phân tích của Hội đồng Khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam, phát triển điện gió ngoài khơi hiện đặt ra hai yêu cầu song hành. Một mặt phải đẩy nhanh tiến độ để đáp ứng mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, cần kiểm soát chặt chẽ để tránh lặp lại những bất cập từng xảy ra trong giai đoạn phát triển nóng của năng lượng tái tạo.
Điện gió ngoài khơi không thể phát triển theo cách "vừa làm, vừa sửa". Nếu quá thận trọng, mục tiêu 6.000 MW vào năm 2030 sẽ rất khó đạt được. Ngược lại, nếu thiếu cơ chế quản lý phù hợp, nguy cơ đầu cơ tài nguyên biển, phát sinh tranh chấp pháp lý và làm méo mó thị trường là hoàn toàn có thể xảy ra.
Vì vậy, điều Việt Nam cần lúc này không chỉ là một nghị định hướng dẫn, mà là một khung chính sách ổn định, minh bạch và có tính dự báo dài hạn để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn hàng chục tỷ USD.
Theo TS Dư Văn Toán, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi cần bổ sung các quy định về quy hoạch không gian biển quốc gia, đặc biệt là không gian dành cho điện gió ngoài khơi, cáp điện ngầm và các công trình hạ tầng hỗ trợ.
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù cho các dự án năng lượng tái tạo trên biển như miễn hoặc giảm phí sử dụng khu vực biển trong những năm đầu, hỗ trợ tín chỉ carbon và cho phép tham gia thị trường carbon trong nước cũng như quốc tế.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận