Nhận bản tin miễn phí
Báo Xây dựng - Tin tức trong ngày, tin mới nhất, tin nhanh 24h Tài chính

Khi trà Việt không còn bán bằng tấn

Khi trà Việt không còn bán bằng tấn

-

Từ những lô chè nguyên liệu giá thấp, một số doanh nghiệp đang chuyển sang chế biến sâu, chuẩn hóa sản phẩm và kể câu chuyện văn hóa để bán trà bằng gram.

Nhưng để con đường này trở thành lựa chọn của cả ngành, chè Việt còn phải vượt qua nhiều thách thức.

Bán bằng gram, không bán nguyên liệu

Tại vùng chè cổ thụ Suối Giàng, doanh nghiệp do ông Đào Đức Hiếu điều hành đã lựa chọn một hướng đi khác với cách xuất khẩu chè nguyên liệu truyền thống.

Khi trà Việt không còn bán bằng tấn - Ảnh 1.

Nghệ nhân Đào Đức Hiếu giới thiệu Trà Shan Tuyết cổ thụ Suối Giàng tới Quan chức cấp cao Hiệp định CPTPP.

Khoảng 12 năm qua, doanh nghiệp không bán chè sơ chế theo tấn hoặc theo thùng, mà tập trung chế biến sản phẩm hoàn thiện, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, thiết kế bao bì và phát triển câu chuyện văn hóa riêng cho từng sản phẩm trà.

"Các đơn vị khác bán trà bằng tấn, còn chúng tôi bán bằng gram. Điều đó không chỉ xuất phát từ độ quý hiếm của nguyên liệu, mà từ việc sản phẩm đã được chế biến, chuẩn hóa và gắn với giá trị văn hóa của vùng chè", ông Hiếu nói.

Theo ông, doanh nghiệp xác định chi phí nguyên liệu và bao bì không vượt quá 35% giá bán sản phẩm. Phần giá trị còn lại được tạo nên từ công nghệ chế biến, kiểm soát chất lượng, thiết kế, tem nhãn, truy xuất nguồn gốc, quản trị vận hành và hệ thống phân phối.

Để hoàn thiện sản phẩm, doanh nghiệp phối hợp với một số làng nghề gốm, mây tre đan, sơn mài trong thiết kế bao bì và dụng cụ thưởng trà. Sau khi chế biến sâu và hoàn thiện nhận diện, một số sản phẩm có giá bán cao hơn nhiều lần so với chè nguyên liệu.

Tuy nhiên, giá trị ấy không chỉ đến từ chiếc hộp đẹp. Để bán được trà theo gram, doanh nghiệp phải kiểm soát từ vùng nguyên liệu, thời điểm thu hái, kỹ thuật chế biến đến chất lượng từng lô sản phẩm.

Bên cạnh xuất khẩu trực tiếp, doanh nghiệp lựa chọn cách tiếp cận khách hàng quốc tế ngay tại Việt Nam thông qua các hoạt động thưởng trà, giới thiệu sản phẩm và kết nối đối tác. Một số dòng trà còn được lưu giữ trong nhiều năm trước khi đưa ra thị trường để tạo hương vị và giá trị khác biệt.

Với thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp đang xây dựng câu chuyện "Thập Trà Long Đỉnh", giới thiệu những vùng chè tiêu biểu của Việt Nam thông qua sự khác biệt về thổ nhưỡng, khí hậu, giống chè và phương pháp chế biến.

Theo ông Hiếu, đây là thị trường có văn hóa trà lâu đời, người mua am hiểu sản phẩm và kiểm tra kỹ các chỉ tiêu kỹ thuật. Vì vậy, câu chuyện văn hóa chỉ tạo được giá trị khi đi cùng chất lượng ổn định và khả năng truy xuất minh bạch.

Giá trị cao không chỉ đến từ bao bì

Mô hình bán trà đặc sản cho thấy một hướng nâng giá trị chè Việt, nhưng không dễ áp dụng đại trà.

Theo ông Đào Đức Hiếu, hộp sơn mài Thập Trà Long Đỉnh 357g hiện đang được doanh nghiệp bán với giá 35.000.000 đồng; Hộp sơn mài Ngũ Phúc Lâm Môn 80g giá 8.680.000 đồng; Hộp sơn mài Phú Quý Cát Tường 96g giá 5.900.000 đồng; Hộp sơn mài sét 4, 85g/hũ giá 9.200.000 đồng; Hộp sơn mài set 2 Hoàng Trà, Diệp Trà 85g/hũ giá 4.980.000 đồng.

Ông Hoàng Vĩnh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam cho biết, Việt Nam có nhiều vùng sinh thái phù hợp để sản xuất chè chất lượng cao như: Lâm Đồng, Sơn La, Hà Giang (cũ), Lào Cai, Lai Châu và Thái Nguyên. Tuy nhiên, phần lớn chè xuất khẩu vẫn chưa xây dựng được thương hiệu đủ mạnh trên thị trường quốc tế.

Theo ông Long, giá chè xuất khẩu của Việt Nam còn thấp so với mức bình quân của thế giới. Một trong những nguyên nhân là chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều, trong khi mối liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với vùng trồng còn lỏng lẻo.

Tại một số địa phương, cơ sở chế biến được mở ra nhưng không gắn với vùng nguyên liệu ổn định. Khi thiếu chè, doanh nghiệp cạnh tranh thu mua mà chưa kiểm soát chặt tiêu chuẩn. Người trồng vì thế ít có động lực đầu tư thâm canh, tuân thủ quy trình an toàn hoặc duy trì chất lượng lâu dài.

Hệ quả là doanh nghiệp có nguyên liệu để duy trì sản xuất nhưng khó tạo ra những lô chè đồng nhất, đáp ứng yêu cầu của các thị trường có giá trị cao.

"Muốn có sản phẩm tốt, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm với vùng nguyên liệu và người trồng. Không thể chỉ mua nguyên liệu khi cần rồi kỳ vọng có chất lượng ổn định", ông Long nhận định.

Một điểm nghẽn khác nằm ở việc bảo vệ chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể. Tình trạng sản phẩm không đúng nguồn gốc nhưng vẫn gắn tên các vùng chè nổi tiếng như Tân Cương hoặc Shan tuyết có thể làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng và giá trị thương hiệu.

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế cho rằng ngành chè Việt Nam đang gặp ba hạn chế chính.

Trước hết, công nghệ chế biến và bảo lưu hương vị đặc trưng chưa đồng đều. Thứ hai, nhiều doanh nghiệp chưa đầu tư đủ dài hạn cho thương hiệu. Thứ ba, hoạt động xúc tiến thương mại và kết nối với phân khúc khách hàng giá trị cao còn hạn chế.

Theo ông Lạng, không nên dùng những sản phẩm trà cực hiếm hoặc có giá trị sưu tầm của Nhật Bản, Trung Quốc để so sánh trực tiếp với chè xuất khẩu đại trà của Việt Nam. Điều cần quan tâm là làm thế nào để từng phân khúc chè Việt tăng giá trị một cách thực chất, dựa trên chất lượng, sự khác biệt và nhu cầu thị trường.

Nâng giá trị phải bắt đầu từ quy hoạch

Trung Quốc vừa là nước sản xuất chè lớn, vừa là thị trường có quy mô tiêu thụ và văn hóa thưởng trà lâu đời. Đây là cơ hội đối với trà Việt, nhưng cũng là thị trường đòi hỏi ngày càng cao về vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm.

Ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương cho rằng, việc các thị trường nâng tiêu chuẩn nhập khẩu tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp, nhưng cũng buộc ngành chè phải thay đổi phương thức sản xuất và xây dựng thương hiệu.

Khi trà Việt không còn bán bằng tấn - Ảnh 2.

Sản phẩm hộp sơn mài Thập Trà Long Đỉnh 357g hiện đang được doanh nghiệp bán với giá 35.000.000 đồng; Hộp sơn mài Ngũ Phúc Lâm Môn 80g giá 8.680.000 đồng...

Theo ông Hải, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp với các hệ thống phân phối. Tuy nhiên, khả năng mở rộng thị phần vẫn phụ thuộc trước hết vào năng lực đáp ứng tiêu chuẩn và giữ chất lượng ổn định của từng doanh nghiệp.

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, chè không nên chỉ được nhìn như một loại nguyên liệu hoặc đồ uống thông thường. Với những vùng chè đặc sản, doanh nghiệp có thể phát triển sản phẩm gắn với trải nghiệm văn hóa, du lịch, sức khỏe và kinh tế xanh. Nhưng việc nâng giá trị phải bắt đầu từ quy hoạch vùng nguyên liệu, giống, quy trình canh tác, công nghệ chế biến và kiểm soát chất lượng.

Theo Hiệp hội Chè Việt Nam, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia xuất khẩu chè lớn, nhưng phần lớn sản phẩm xuất khẩu vẫn là chè đen và chè xanh dạng hàng rời hoặc nguyên liệu. Việc tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, đóng gói và mang thương hiệu Việt được xem là điều kiện quan trọng để nâng giá trị xuất khẩu.


Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.