
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì Hội nghị về Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ Quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Theo đó, hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được rút gọn còn đơn đề nghị theo mẫu. Người dân, hợp tác xã hay doanh nghiệp nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ phải thông báo cấp mã số hoặc trả lời bằng văn bản nếu từ chối, nêu rõ lý do.
Trường hợp chỉ thay đổi người đại diện, địa giới hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian xử lý còn hai ngày làm việc. So với quy trình hiện hành, thay đổi này không chỉ rút ngắn thời gian mà còn giảm đáng kể chi phí tuân thủ của người dân và doanh nghiệp. Dự thảo cũng xác định rõ nguyên tắc không phát sinh thêm thủ tục hành chính mới, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp với thực tế sản xuất.
Theo ông Đạt, cắt giảm thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Nền tảng của mô hình mới là dữ liệu số. Cụ thể, toàn bộ dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung trên hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời công khai trên cổng thông tin điện tử của Bộ. Hệ thống này được kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu liên quan theo quy định pháp luật.
Thay vì dựa chủ yếu vào các đợt kiểm tra trước khi cấp mã, cơ quan quản lý có thể theo dõi tình trạng hoạt động của vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất toàn bộ thông tin trên một nền tảng dữ liệu thống nhất.
Dự thảo vẫn giữ nguyên yêu cầu đối với những vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Ngoài việc tuân thủ quy định của Việt Nam, các vùng trồng và cơ sở đóng gói còn phải đáp ứng yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu. Khi đăng ký xuất khẩu, tổ chức, cá nhân phải thông báo bằng văn bản về thị trường dự kiến để cơ quan chuyên môn thực hiện hậu kiểm việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Thời gian xử lý nội dung này không quá 10 ngày làm việc.
"Với mã số phục vụ nội tiêu, thủ tục được rút gọn tối đa. Với xuất khẩu, việc kiểm tra vẫn được duy trì nhưng tập trung vào những tiêu chuẩn kỹ thuật mà từng thị trường yêu cầu, thay vì áp dụng quy trình tiền kiểm chung cho mọi trường hợp", ông Đạt nhấn mạnh.
Để đơn giản việc cấp mã vùng trồng, sở nông nghiệp và môi trường nhiều địa phương như Lâm Đồng, Gia Lai, Sơn La... đồng thuận, mã số vùng trồng được cấp theo vị trí thửa đất nhưng chưa bắt buộc phải gắn ngay với mã định danh đất đai. Cơ sở để cấp mã là thông tin kê khai của người dân, doanh nghiệp hoặc hợp tác xã. Riêng các vùng trồng đăng ký xuất khẩu phải trải qua tiền kiểm để đánh giá việc đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhất trí phương án, khu đất chưa có trong cơ sở dữ liệu, UBND cấp xã phải xác nhận vị trí và diện tích để làm căn cứ cấp mã. Theo ông Hiệp, đây không phải bổ sung thủ tục mà nhằm bảo đảm mỗi mã số đều gắn với một vị trí sản xuất xác định, hạn chế tình trạng sai lệch thông tin hoặc khó truy xuất sau này. Ông Hiệp yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo, kịp trình Chính phủ ban hành vào 15/7.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận