Nhận bản tin miễn phí
Báo Xây dựng - Tin tức trong ngày, tin mới nhất, tin nhanh 24h Thị trường

Phú Thọ: Nông sản được nâng giá trị thế nào nhờ khoa học kỹ thuật?

Phú Thọ: Nông sản được nâng giá trị thế nào nhờ khoa học kỹ thuật?

-

Từ sản xuất nấm trong nhà kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm đến tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, chế biến sâu và phát triển chăn nuôi quy mô lớn, nhiều mô hình tại Phú Thọ đang cho thấy hiệu quả rõ nét khi khoa học kỹ thuật được đưa vào sản xuất.

Kiểm soát quy trình, nâng chất lượng nông sản

Tại xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết và kinh nghiệm thủ công, Công ty TNHH Nấm Phùng Gia đầu tư nhà trồng, kiểm soát các điều kiện sinh trưởng và tổ chức sản xuất theo quy trình khép kín.

Phú Thọ: Khoa học công nghệ nâng giá trị nông sản, tăng thu nhập cho nông dân - Ảnh 1.

Công ty TNHH Nấm Phùng Gia tập trung sản xuất nấm đùi gà và nấm sò yến, với sản lượng khoảng 1,3 - 1,8 tấn/ngày, doanh thu bình quân khoảng 40 tỷ đồng/năm.

Theo ghi nhận thực tế, từ xử lý nguyên liệu, cấy giống, chăm sóc đến thu hoạch, các công đoạn sản xuất nấm đều được kiểm soát chặt chẽ. Công nghệ sản xuất theo quy trình Hàn Quốc giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm và môi trường, hạn chế tác động bất lợi của thời tiết, qua đó ổn định năng suất và chất lượng sản phẩm.

Hiện Công ty TNHH Nấm Phùng Gia tập trung sản xuất nấm đùi gà và nấm sò yến, với sản lượng khoảng 1,3 - 1,8 tấn/ngày, doanh thu bình quân khoảng 40 tỷ đồng/năm. Bình quân mỗi tháng, doanh nghiệp đưa ra thị trường khoảng 40 tấn nấm; thời điểm cao điểm phục vụ Tết, sản lượng tăng lên 50 - 60 tấn.

Ông Phùng Đức Cường, Phó giám đốc Công ty TNHH Nấm Phùng Gia cho biết, ứng dụng kỹ thuật chỉ là một phần trong bài toán sản xuất. Quan trọng hơn là phải tổ chức sản xuất gắn với nhu cầu thị trường.

Doanh nghiệp chủ động làm việc với hệ thống siêu thị, cửa hàng và đại lý để nắm nhu cầu, chốt đơn hàng trước, từ đó xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp. Việc này giúp công ty chuyển từ sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo đơn hàng, đồng thời chủ động về đầu ra và giữ ổn định giá bán.

Hiện khoảng 60% sản lượng nấm đùi gà, nấm sò yến của doanh nghiệp được hệ thống VinMart trên toàn quốc ký hợp đồng bao tiêu. 40% sản lượng còn lại được phân phối qua các cửa hàng thực phẩm an toàn, thực phẩm sạch từ miền Bắc vào miền Nam.

Không dừng ở khâu sản xuất, doanh nghiệp còn chú trọng nâng giá trị sản phẩm thông qua tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Sản phẩm được chứng nhận VietGAP, đóng gói, dán tem truy xuất và tích hợp mã QR. Nấm đùi gà của doanh nghiệp được UBND tỉnh công nhận sản phẩm OCOP 4 sao.

Đằng sau những túi nấm có hình thức đồng đều, mã truy xuất rõ ràng là một quy trình sản xuất được chuẩn hóa. Khoa học kỹ thuật vì thế không chỉ giúp tăng năng suất mà còn trở thành công cụ để nông sản bước vào các kênh phân phối hiện đại.

Từ nguyên liệu thô đến sản phẩm giá trị cao

Tại Hợp tác xã (HTX) Nấm Tam Đảo, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật được triển khai theo hướng sâu hơn, từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. 

Thay vì chỉ bán nông sản thô, HTX đầu tư công nghệ chế biến, trong đó có sản phẩm đông trùng hạ thảo sấy thăng hoa. Năm 2024, HTX sản xuất 80kg sản phẩm, với giá bán khoảng 27 triệu đồng/kg, tương đương giá trị khoảng 2,16 tỷ đồng.

Phú Thọ: Khoa học công nghệ nâng giá trị nông sản, tăng thu nhập cho nông dân - Ảnh 2.

Hợp tác xã Nấm Tam Đảo, từ sản xuất nhỏ lẻ sang ứng dụng công nghệ, chế biến sâu và liên kết theo chuỗi, mô hình đang tạo thêm giá trị cho nông sản, đồng thời mở rộng sinh kế cho người dân tham gia sản xuất.

Ông Nguyễn Quốc Huy, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc HTX Nấm Tam Đảo cho biết, điểm quan trọng trong cách làm của HTX là tổ chức lại toàn bộ chuỗi sản xuất, chứ không chỉ đầu tư máy móc cho khâu chế biến. 

HTX trực tiếp chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn người dân quy trình sản xuất, ứng trước giống và vật tư; sau đó thu mua sản phẩm và đối trừ chi phí khi tiêu thụ. 

Khi kiểm soát được từ vùng nguyên liệu đến chế biến và đầu ra, giá trị sản phẩm được nâng lên, đồng thời người dân yên tâm hơn khi tham gia chuỗi liên kết.

Với cây dâu, con tằm, Hợp tác xã đang mở rộng liên kết tại Bảo Yên, Chiêm Hóa, Văn Yên, từng bước hình thành chuỗi từ xây dựng vùng nguyên liệu, chuyển giao kỹ thuật đến thu mua, chế biến và tiêu thụ.

Hiệu quả bước đầu thể hiện qua kết quả sản xuất, kinh doanh. Năm 2024, doanh thu HTX đạt gần 1,89 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế gần 380 triệu đồng. Năm 2026, HTX dự kiến doanh thu xấp xỉ 5 tỷ đồng.

Từ sản xuất nhỏ lẻ sang ứng dụng công nghệ, chế biến sâu và liên kết theo chuỗi, mô hình đang tạo thêm giá trị cho nông sản, đồng thời mở rộng sinh kế cho người dân tham gia sản xuất.

Tận dụng phụ phẩm, tạo thêm giá trị

Tại xã Hợp Lý, câu chuyện ứng dụng khoa học kỹ thuật bắt đầu từ những nguyên liệu tưởng như bỏ đi. Với quy mô gần 1ha, ông Nguyễn Văn Toản, hội viên nông dân thôn Trại Chuối, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất nấm rơm. Gia đình đầu tư nhà trồng, khu vực ủ nguyên liệu, hệ thống tưới giữ ẩm và các thiết bị phục vụ sản xuất.

Phú Thọ: Khoa học công nghệ nâng giá trị nông sản, tăng thu nhập cho nông dân - Ảnh 3.

Việc đưa nấm rơm vào nhà trồng giúp người sản xuất chủ động kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, hạn chế ảnh hưởng của thời tiết và duy trì điều kiện sinh trưởng ổn định.

Việc đưa nấm vào nhà trồng giúp người sản xuất chủ động kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, hạn chế ảnh hưởng của thời tiết và duy trì điều kiện sinh trưởng ổn định. Từ khâu lựa chọn, xử lý nguyên liệu, cấy meo giống, chăm sóc đến thu hoạch đều được thực hiện theo yêu cầu kỹ thuật. 

Theo ông Toản, chất lượng meo giống, xử lý nguyên liệu đúng quy trình và kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm là những yếu tố quyết định năng suất, chất lượng nấm.

“Nếu điều kiện thuận lợi, từ khi cấy meo đến khi thu hoạch chỉ khoảng 10-15 ngày. Trồng trong nhà giúp gia đình chủ động hơn trong chăm sóc, hạn chế ảnh hưởng của thời tiết và tạo ra sản phẩm đồng đều”, ông Toản chia sẻ.

Nấm rơm được thu hoạch khi còn búp để giữ độ tươi, sau đó phân loại, đóng gói và đưa ra thị trường qua các chợ, cửa hàng thực phẩm, nhà hàng và thương lái trong, ngoài địa phương.

Từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp, qua xử lý và áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, gia đình ông Toản đã tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế, đồng thời góp phần hạn chế lãng phí nguyên liệu và giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Mô hình cho thấy ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp không nhất thiết phải bắt đầu từ những công nghệ phức tạp. Việc kiểm soát tốt nguyên liệu, nhiệt độ, độ ẩm và quy trình chăm sóc cũng có thể tạo ra những thay đổi đáng kể về năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.

Chăn nuôi nhỏ lẻ chuyển hướng hàng hóa

Không chỉ trong trồng trọt, tư duy ứng dụng kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng đang được thể hiện rõ trong các mô hình chăn nuôi. Từ vài chục con dê nuôi thử nghiệm, anh Nguyễn Văn Tú, hội viên nông dân thôn Tùy Sơn, xã Hợp Lý, từng bước mở rộng quy mô, đầu tư chuồng trại và chuyển sang chăn nuôi tập trung. Đến nay, đàn dê của gia đình đã lên hơn 1.000 con.

Phú Thọ: Khoa học công nghệ nâng giá trị nông sản, tăng thu nhập cho nông dân - Ảnh 4.

Từ chỗ nuôi vài chục con để có thêm thu nhập, gia đình anh Tú (xã Hợp Lý, tỉnh Phú Thọ) đã phát triển thành mô hình quy mô lớn với cách quản lý, đầu tư và kiểm soát dịch bệnh bài bản hơn.

Những năm 2021 - 2022, gia đình anh Tú bắt đầu nuôi dê theo hình thức thả tự do, chủ yếu nhằm tăng thêm thu nhập. Sau thời gian chăn nuôi thực tế, nhận thấy dê phù hợp với điều kiện sản xuất của gia đình, anh bắt đầu tích lũy vốn, học hỏi kinh nghiệm và tính toán mở rộng đàn.

Bước chuyển rõ nét diễn ra từ cuối năm 2025, đầu năm 2026. Thay vì duy trì phương thức nuôi nhỏ lẻ, gia đình đầu tư hệ thống chuồng trại theo hướng khoa học, phù hợp với chăn nuôi tập trung, đồng thời nâng quy mô đàn lên hơn 1.000 con.

Quy mô đàn tăng cũng đòi hỏi thay đổi cách quản lý. Vệ sinh chuồng trại, theo dõi đàn, chăm sóc và phòng, chống dịch bệnh được chú trọng hơn. Chăn nuôi tập trung giúp gia đình chủ động quản lý đàn, hạn chế rủi ro và từng bước hình thành quy trình sản xuất hàng hóa.

Từ chỗ nuôi vài chục con để có thêm thu nhập, gia đình anh Tú đã phát triển thành mô hình quy mô lớn, đòi hỏi cách quản lý, đầu tư và kiểm soát dịch bệnh bài bản hơn.

Những mô hình trên cho thấy, khoa học kỹ thuật đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp tại Phú Thọ. Từ kiểm soát môi trường nuôi trồng, tận dụng phụ phẩm, chế biến sâu đến tổ chức chăn nuôi tập trung, giá trị được tạo ra không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở chất lượng, khả năng truy xuất, thị trường tiêu thụ và tính ổn định của chuỗi sản xuất.

Đây cũng là hướng đi để nông dân chuyển từ tư duy sản xuất manh mún sang sản xuất hàng hóa, nâng hiệu quả sử dụng nguồn nguyên liệu, tăng thu nhập và hướng tới nền nông nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.