Hành trình chuyển đổi “nâu” sang “xanh”
Ngày 22/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng trên cơ sở hợp nhất thị xã Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên cũ, tạo không gian quản lý, phát triển mới gắn với vùng công nghiệp than Hòn Gai và khu vực nông nghiệp lân cận.

Một góc TP Quảng Ninh sau 60 năm từ vùng than đến thành phố xanh, hiện đại.
Bước sang đầu thập niên 1960, trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, chủ trương hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh được đặt ra.
Ngày 30/10/1963, tỉnh Quảng Ninh chính thức được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng, với diện tích tự nhiên 6.206,9km².
Sự ra đời của tỉnh tạo nên một không gian phát triển đặc biệt, hội tụ vùng than lớn nhất cả nước, hệ thống cảng biển, biên giới trên đất liền với Trung Quốc cùng vùng biển, đảo rộng lớn trên vịnh Bắc Bộ. Đây cũng là nền tảng để Quảng Ninh hình thành cơ cấu kinh tế đa dạng, từ công nghiệp khai khoáng, nông nghiệp đến kinh tế biển, thương mại biên giới và du lịch.
Như nhiều địa phương trong cả nước, Quảng Ninh từng trải qua giai đoạn khó khăn của cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp. Kinh tế phụ thuộc lớn vào khai thác tài nguyên và nguồn lực Trung ương.


Công cuộc Đổi mới năm 1986 mở ra bước ngoặt. Quảng Ninh từng bước khai thác hiệu quả hơn các lợi thế sẵn có. Ngành than tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; thương mại biên giới phát triển, trong đó Móng Cái trở thành một trong những cửa ngõ giao thương quan trọng với Trung Quốc.
Đặc biệt, du lịch dần trở thành động lực tăng trưởng mới. Năm 1993, Chính phủ quyết định thành lập thành phố Hạ Long trên cơ sở địa giới thị xã Hòn Gai cũ. Ngày 17/12/1994, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới lần thứ nhất về giá trị thẩm mỹ.
Từ đây, hình ảnh Quảng Ninh không còn chỉ gắn với vùng than và công nghiệp khai khoáng. vịnh Hạ Long trở thành thương hiệu du lịch quốc gia, tạo nền tảng để các ngành dịch vụ, nghỉ dưỡng, vận tải, thương mại và kinh tế đô thị phát triển.
Trong những năm tiếp theo, Quảng Ninh xác định rõ yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên hữu hạn, phát triển mạnh dịch vụ, du lịch, kinh tế biển và công nghệ.


Một trong những dấu ấn nổi bật là xã hội hóa đầu tư hạ tầng. Hệ thống cao tốc, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long cùng các tuyến đường ven biển, xuyên núi, băng sông từng bước hình thành, tạo mạng lưới giao thông đồng bộ.
Hạ tầng phát triển làm thay đổi không gian kinh tế của tỉnh, rút ngắn thời gian kết nối Hà Nội - Hạ Long, đồng thời tạo điều kiện để Vân Đồn, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí và nhiều khu vực khác mở rộng không gian phát triển.
Theo Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh duy trì trên 10% trong 9 năm liên tiếp, giai đoạn 2015-2023. Quảng Ninh cũng có 7 năm đứng đầu bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
Những kết quả này cho thấy quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tài nguyên sang nền kinh tế đa dạng hơn, trong đó dịch vụ, du lịch và các ngành kinh tế mới ngày càng giữ vai trò quan trọng.



Mở không gian phát triển mới
Sau hơn 60 năm hình thành và phát triển, Quảng Ninh đang đứng trước một bước chuyển mới.
Ngày 7/4, Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới tỉnh hiện nay, với định hướng phát triển xanh, hiện đại, giàu bản sắc. Ngày 1/6, HĐND tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026-2031 biểu quyết thông qua nghị quyết về chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh.
Định hướng này không chỉ là sự thay đổi về mô hình tổ chức hành chính, mà còn đặt ra yêu cầu tái cấu trúc không gian phát triển trên quy mô lớn.
Thành phố Quảng Ninh được định hướng phát triển theo mô hình đô thị xanh, thông minh, tích hợp không gian đô thị, biển, đảo, biên giới và di sản trong một hệ sinh thái phát triển thống nhất.
Thay vì phát triển phân tán, địa phương hướng tới cấu trúc đa trung tâm, tăng cường kết nối giữa các khu vực và thúc đẩy liên kết vùng. Những lợi thế đặc trưng như vịnh Hạ Long, hệ thống đô thị ven biển, khu vực biên giới Móng Cái, Vân Đồn và vùng than được đặt trong một không gian phát triển rộng lớn hơn.



Các động lực tăng trưởng mới được định hướng xoay quanh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; kinh tế xanh, kinh tế biển, kinh tế di sản, kinh tế biên giới, kinh tế ban đêm và công nghiệp văn hóa.
Nhìn lại hành trình từ năm 1955 đến nay, Quảng Ninh đã nhiều lần điều chỉnh không gian và mô hình phát triển để thích ứng với yêu cầu của từng thời kỳ.
Từ vùng đất hình thành và phát triển mạnh trên nền tảng công nghiệp than, Quảng Ninh từng bước chuyển sang mô hình kinh tế đa dạng hơn. Than vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng du lịch, dịch vụ, kinh tế biển, thương mại biên giới, hạ tầng và công nghệ đang ngày càng trở thành những động lực tăng trưởng mới.
Hành trình ấy đang đưa Quảng Ninh từ một tỉnh công nghiệp nặng trở thành một trong những cực tăng trưởng năng động của vùng Đông Bắc, đồng thời mở ra chương mới với mục tiêu xây dựng thành phố Quảng Ninh xanh, thông minh, giàu bản sắc và có sức cạnh tranh ở tầm quốc gia, quốc tế.
Nguồn tham khảo: Sách Địa chí Quảng Ninh; Quảng Ninh xưa và nay; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.

Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận