Quy định số 212-QĐ/TW quy định nội dung vi phạm và hình thức kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư.
Quy định áp dụng đối với tổ chức đảng (gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể, kết thúc hoạt động, thay đổi do chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất) và đảng viên (gồm cả đảng viên bị tuyên bố mất tích, đảng viên đã qua đời nhưng có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, đảng viên ở nước ngoài).
Trường hợp tổ chức đảng, đảng viên vi phạm nội dung chưa nêu trong Quy định này thì căn cứ vào Điều lệ và chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ và quy định của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để xử lý kỷ luật cho phù hợp với Quy định này.
Quy định nêu rõ, tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.
Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn.
Thi hành kỷ luật phải đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và thẩm quyền, theo quy định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh.
Khi xem xét kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra.
Một hành vi vi phạm chỉ bị kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật. Khi cùng một thời điểm xem xét kỷ luật nếu có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất; không tách riêng từng hành vi vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau và kỷ luật nhiều lần.
Theo Quy định, tổ chức đảng bị kỷ luật, tổ chức đảng nơi đảng viên bị kỷ luật sinh hoạt đã chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc kết thúc hoạt động thì việc công bố quyết định kỷ luật thực hiện ở tổ chức đảng đã tiếp nhận việc chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đó.
Kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để xem xét xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng.
Đảng viên trong tổ chức đảng bị kỷ luật phải chịu trách nhiệm về nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật của tổ chức đảng đó và phải ghi vào lý lịch đảng viên; đảng viên không bị kỷ luật về cá nhân vẫn được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, thực hiện công tác cán bộ theo quy định.
Đảng viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến vi phạm của tổ chức đảng cũng phải ghi rõ vào lý lịch đảng viên.
Thời hiệu kỷ luật đối với tổ chức đảng vi phạm là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo.
Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với những vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật giải tán; vi phạm về chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Đối với đảng viên, thời hiệu kỷ luật là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.
Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khai trừ; vi phạm chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc; việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.
Đối với tổ chức đảng, các hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Đối với đảng viên chính thức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ; đối với đảng viên dự bị gồm: khiển trách, cảnh cáo.
Quy định số 212-QĐ/TW xác định cụ thể các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với tổ chức đảng; các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với đảng viên, trong đó có các lĩnh vực về công tác tổ chức, cán bộ và công tác đảng viên; về bầu cử; quản lý, sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước; về kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; quốc phòng, an ninh, đối ngoại; đầu tư, xây dựng cơ bản; kinh tế, tài chính, ngân hàng; tài nguyên, đất đai, nhà ở; giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;…
Một trong những nội dung đáng chú ý, Quy định số 212-QĐ/TW quy định cụ thể việc xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên vi phạm trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đối với tổ chức đảng, một số hành vi vi phạm gồm: không chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc xử lý hoặc không kịp thời xử lý tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi quản lý vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chỉ đạo hoặc tổ chức thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực này trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ban hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, văn bản trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo hoặc thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo để tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý vi phạm hoặc không chấp hành chỉ đạo của cấp có thẩm quyền;…
Đối với đảng viên, Quy định nêu các hành vi vi phạm như: cản trở, gây khó khăn cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hợp pháp; nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai, xử lý, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói, chữ ký của người khác, tạo lập, đăng tải, phát tán thông tin trái quy định;…
Quy định số 212-QĐ/TW có hiệu lực từ ngày ký; thay thế Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6/7/2022 của Bộ Chính trị khoá XIII về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Quy định số 264-QĐ/TW, ngày 14/2/2025 của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 69-QĐ/TW. Quy định được phổ biến đến chi bộ.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận