Quảng Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I vào năm 2026
Phạm vi lập quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh là toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh, bao gồm 54 đơn vị hành chính cấp xã. Ranh giới hành chính giới hạn phía Bắc giáp Trung Quốc; phía Nam giáp thành phố Hải Phòng; phía Đông giáp biển; phía Tây giáp các tỉnh Bắc Ninh, Lạng Sơn.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn đề nghi Quảng Ninh tiếp cận quy hoạch theo hướng tổng quan, đa chiều.
Quy mô lập quy hoạch khoảng 6.232,4km² đất liền và phần diện tích biển có ranh giới ngoài cách đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm một khoảng cách 6 hải lý do Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định, công bố. Thời hạn quy hoạch ngắn hạn đến năm 2040, dài hạn đến năm 2050 và tầm nhìn đến năm 2075.
Mục tiêu lập quy hoạch là phát triển thành phố Quảng Ninh hiện đại, thông minh, xanh và bền vững; là cực tăng trưởng quốc gia, tạo động lực phát triển vùng, có sức hút lan tỏa, khả năng cạnh tranh quốc tế; phát triển cân bằng giữa kinh tế - xã hội - môi trường.
Quy hoạch hướng đến phát triển tích hợp đô thị - biển - biên giới - di sản thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh; tạo nền tảng không gian và cơ sở hạ tầng cho phát triển các đô thị, dịch vụ, kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao; gắn với khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực liên kết vùng, kết nối quốc gia, quốc tế, đảm bảo quốc phòng - an ninh và hợp tác quốc tế.
Quy hoạch đặt mục tiêu phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển, công nghiệp du lịch, công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, kinh tế đêm, kinh tế đô thị; hình thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật cấp vùng, điểm đến hấp dẫn của khu vực Châu Á và thế giới; đảm bảo yêu cầu về quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia; bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên biển theo luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Theo quy hoạch, đô thị Quảng Ninh có tính chất là trung tâm kinh tế biển hiện đại, mang tầm quốc tế, hàng đầu ở Đông Nam Á và là động lực phát triển của vùng Đồng bằng sông Hồng; là đô thị biển - biên giới - di sản, xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu
Đây cũng là trung tâm du lịch quốc gia và quốc tế, trung tâm công nghiệp hiện đại; trung tâm dịch vụ, thương mại, logistics gắn với các ngành kinh tế biển có sức cạnh tranh quốc tế cao; là đầu mối giao thông, hạ tầng quan trọng của quốc gia có vai trò kết nối các hành lang kinh tế trong nước và quốc tế, trung tâm logistics và giao thương hàng hóa cấp vùng và quốc tế.
Bên cạnh đó, Quảng Ninh còn là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo đảm an ninh biên giới, an ninh năng lượng và an toàn không gian phát triển quốc gia.

Ông Vũ Văn Diện, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Ninh đã tiếp thu ý kiến của Hội đồng thẩm định.
Dự báo đến năm 2030, quy mô dân số của đô thị Quảng Ninh khoảng 2,23 - 2,32 triệu người, quy mô khách du lịch khoảng 28- 30 triệu lượt khách, chỉ tiêu đất xây dựng khoảng 80.000 - 90.000ha.
Đến năm 2040, quy mô dân số khoảng 2,98 - 3,10 triệu người, khách du lịch khoảng 35 - 38 triệu lượt; đất xây dựng khoảng 110.000 - 120.000ha. Đến năm 2050, quy mô dân số khoảng 3,82 - 4,24 triệu người, khách du lịch khoảng 40 - 45 triệu lượt; đất xây dựng khoảng 140.000 - 150.000ha.
Quy hoạch xác định phát triển mô hình cấu trúc chuỗi đô thị đô thị đa cực, đa trung tâm, đa tầng, đa lớp; phát triển tích hợp biển, đảo, biên giới, di sản. Không gian phát triển được tổ chức theo cấu trúc: 3 hành lang phát triển, 4 vùng kinh tế xã hội, 5 trung tâm động lực phát triển.
Trong đó, 3 hành lang phát triển là hành lang đô thị ven biển, hành lang biển đảo; hành lang sinh thái đồi núi.
4 phân vùng kinh tế xã hội là vùng đô thị phía Tây gồm Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên, Đông Triều, Uông Bí; vùng đô thị phía Đông gồm Móng Cái, Quảng Hà, Đầm Hà, Tiên Yên; vùng đô thị biển đảo gồm Vân Đồn, Cô Tô, vịnh Hạ Long; vùng đồi núi phía Bắc.
5 trung tâm động lực là các đô thị Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn, Quảng Yên và di sản Yên Tử - vịnh Hạ Long.
Về định hướng phát triển không gian, Quảng Ninh sẽ phát triển chuỗi đô thị tập trung dọc hành lang ven biển với các khu vực đô thị sinh thái, hạ tầng đồng bộ, thông minh, gắn với đặc điểm tự nhiên đặc thù của từng khu vực, phát triển chuỗi chức năng dịch vụ đa dạng.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng lưu ý phát triển đô thị theo mô hình phát triển xanh, đô thị sinh thái, thích ứng và chống chịu biến đổi khí hậu; phát triển các khu vực đô thị tập trung phát triển theo mô hình TOD…
Theo định hướng phát triển hệ thống đô thị, đến năm 2026, Quảng Ninh sẽ đạt tiêu chí đô thị loại I. Đến năm 2030, Quảng Ninh là đô thị loại I, hệ thống đô thị trên địa bàn tỉnh gồm 7 khu vực đạt tiêu chí đô thị loại II; 6 khu vực đạt tiêu chí đô thị loại III. Đến năm 2040, Quảng Ninh có 14 đô thị, trong đó có 7 khu vực đạt tiêu chí đô thị loại II, 7 khu vực đạt tiêu chí đô thị loại III…
Làm rõ điểm nghẽn để hoàn thiện quy hoạch
Hội đồng thẩm định cơ bản nhất trí với nội dung của đồ án quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.
Hồ sơ được nghiên cứu khoa học; số liệu chi tiết, đầy đủ; đảm bảo trình tự và thủ tục theo Luật Quy hoạch đô thị, nông thôn và các quy định pháp luật có liên quan.
Tuy nhiên, một số thành viên của Hội đồng cũng đóng góp thêm một số ý kiến để hoàn thiện đồ án trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt.

Cuộc họp hội đồng thẩm định quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.
Vụ Quy hoạch - Kiến trúc (Bộ Xây dựng) đề nghị phân tích rõ hơn mối liên hệ vùng, đặc biệt là kết nối giữa Quảng Ninh với Hải Phòng và Bắc Ninh; làm rõ dự báo tăng trưởng phù hợp với dự báo quy mô dân số; rà soát hiện trạng sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất; làm rõ ranh giới các khu vực cần bảo vệ, cấm xây dựng như khu vực an ninh quốc phòng, khu vực có nguy cơ sạt lở, khu vực bảo vệ di tích…; rà soát nội dung quy hoạch không gian ngầm.
Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam đề nghị làm rõ mối quan hệ kinh tế cửa khẩu với nước bạn Trung Quốc; điều chỉnh dự báo quy mô dân số phù hợp với công tác bảo vệ cảnh quan, môi trường; bổ sung nội dung bảo vệ diện tích rừng ngập mặn; xây dựng các công trình mang tính biểu tượng của đô thị; bổ sung đánh giá biến đổi khí hậu đối với khu vực ven biển; quan tâm phát triển giao thông đường biển; làm rõ nội dung phát triển đô thị theo mô hình TOD; xây dựng bản đồ cảnh báo khu vực có nguy cơ lũ quét, sạt lở.
Hội Kiến trúc sư Việt Nam đề nghị xem xét phát triển đô thị nén cao tầng; rà soát dự báo quy mô dân số phù hợp hơn, rà soát chỉ tiêu đất cây xanh công cộng, quan tâm hơn đến phát triển kinh tế ngầm; làm rõ hơn nội dung phát triển nông thôn…
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị bổ sung định hướng phát triển văn hóa trên địa bàn; chuẩn hóa tên các di tích, di sản; đẩy mạnh mô hình công – tư trong bảo tồn di tích, di sản.
Bộ Quốc phòng đề nghị cập nhật các quy hoạch chuyên ngành mới nhất; đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ an ninh quốc phòng khi triển khai thực hiện quy hoạch.
Bộ Tài chính đề nghị tích hợp công tác thoát nước mưa với phòng chống lũ, lụt. Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị bổ sung đánh giá hiện trạng chi tiết, đầy đủ hơn…

Theo định hướng phát triển hệ thống đô thị, đến năm 2026, Quảng Ninh sẽ đạt tiêu chí đô thị loại I.
Thay mặt chính quyền địa phương, ông Vũ Văn Diện, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Ninh đã tiếp thu ý kiến của Hội đồng thẩm định, đồng thời giải trình một số nội dung về phát triển hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, phát triển hạ tầng ngầm…
Kết luận hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn đánh giá cao nội dung đồ án quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.
Tuy nhiên, để hoàn thiện quy hoạch trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt, Thứ trưởng đề nghị tỉnh Quảng Ninh tiếp cận quy hoạch theo hướng tổng quan, đa chiều. Trong đánh giá hiện trạng phát triển đô thị, cần phân tích sâu nội dung thực hiện các quy hoạch, từ đó làm rõ hơn các điểm nghẽn.
Thứ trưởng cũng lưu ý tỉnh Quảng Ninh rà soát, tính toán các dự báo quy mô dân số, khách du lịch và chỉ tiêu sử dụng đất phù hợp hơn; xem xét kỹ nội dung lấn biển, san lấp đồi núi để phát triển đô thị; rà soát phạm vi, ranh giới lập quy hoạch vùng đô thị lõi trong định hướng tổ chức không gian; cập nhật số liệu thống kê đảm bảo đầy đủ, chính xác và mới nhất; rà soát nội dung biến đổi khí hậu, phòng chống sạt lở…
Tỉnh Quảng Ninh và đơn vị tư vấn cần tiếp thu đầy đủ ý kiến của Hội đồng thẩm định để hoàn thiện hồ sơ, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và phù hợp với bối cảnh phát triển mới.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận