Cần tránh lợi dụng danh nghĩa công nghiệp văn hóa làm dự án bất động sản
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL) xây dựng theo hướng hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đồng bộ, phát huy nguồn lực sáng tạo, tài sản trí tuệ, khoa học công nghệ và bản sắc văn hóa Việt Nam.
Sau thời gian tổ chức lấy ý kiến để hoàn thiện, Bộ VH,TT&DL đã công bố bảng tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình góp ý dự thảo từ các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và công chúng.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng trên quan điểm xác định trúng, đúng các cơ chế, chính sách mang tính then chốt tầm luật để tạo khung khổ pháp lý cho thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa.
Trong đó, nổi bật là góp ý của Bộ Xây dựng về các Điều 3, Điều 4, Điều 6, Chương V Điều 22, Điều 23, Điều 24, Điều 26, Điều 27, Điều 28, Chương VII Điều 49, Điều 52, khoản 8 Điều 53, Điều 54, Điều 55 của dự thảo luật.
Bộ Xây dựng cho biết thống nhất về sự cần thiết xây dựng cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa, tạo điều kiện cho hoạt động sáng tạo, sản xuất, phân phối sản phẩm văn hóa và huy động nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, không gian sáng tạo.
Tuy nhiên, dự thảo đang quy định nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến quy hoạch, đất đai, đầu tư, đầu tư công, đấu thầu, xây dựng, quản lý tài sản công, nhà ở, hạ tầng kỹ thuật và không gian công cộng. Đồng thời hình thành các khái niệm, loại hình và trình tự riêng nhưng chưa làm rõ địa vị pháp lý và quan hệ với pháp luật chuyên ngành.
Bộ Xây dựng đề nghị chỉnh lý dự thảo theo nguyên tắc: Luật Phát triển công nghiệp văn hóa quy định chính sách phát triển ngành, tiêu chí thụ hưởng và cơ chế hỗ trợ; các nội dung về quy hoạch, đất đai, đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác công trình và tài sản công thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.
Việc công nhận công trình, tổ hợp hoặc khu vực phục vụ công nghiệp văn hóa không thay thế thủ tục về quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng; không làm thay đổi mục đích sử dụng đất, công năng, loại và cấp công trình; không được sử dụng để hợp thức hóa vi phạm.
Dự thảo cần kiểm soát chặt chính sách ưu đãi, tránh áp dụng dàn trải theo tên gọi hoặc địa điểm được công nhận, làm phát sinh chênh lệch địa tô và nguy cơ lợi dụng danh nghĩa công nghiệp văn hóa để phát triển dự án bất động sản, thương mại, dịch vụ. Chính sách hỗ trợ phải xác định rõ đối tượng, điều kiện, thời hạn, kết quả đầu ra, cơ chế hậu kiểm, thu hồi và hoàn trả ưu đãi.
Về quan điểm này, ban soạn thảo cho biết sẽ rà soát, nghiên cứu tại các điều khoản cụ thể.
Đối với việc cải tạo, chuyển đổi công năng nhà máy hoặc công trình hiện hữu thành tổ hợp sáng tạo văn hóa, Bộ Xây dựng cho rằng dự thảo luật cần quy định chỉ được thực hiện khi phù hợp quy hoạch đô thị và nông thôn, mục đích sử dụng đất, quy chế quản lý kiến trúc và đáp ứng yêu cầu về an toàn công trình, phòng cháy, chữa cháy, môi trường, giao thông, thoát nạn, di sản văn hóa và pháp luật có liên quan.
Phản hồi về đề xuất trên, ban soạn thảo bày tỏ sẽ tiếp thu, bổ sung việc cải tạo chuyển đổi công năng chỉ được thực hiện khi phù hợp quy hoạch đô thị và nông thôn, mục đích sử dụng đất, quy chế quản lý kiến trúc và đáp ứng yêu cầu về an toàn công trình, phòng cháy, chữa cháy, môi trường, giao thông, thoát nạn, di sản văn hóa và pháp luật có liên quan tại Điều 23 dự thảo luật.

Bộ Xây dựng đề nghị siết chính sách ưu đãi, tránh lợi dụng công nghiệp văn hóa để làm bất động sản. (Ảnh minh họa).
Về công trình hạ tầng công nghiệp văn hóa tại Điều 22, Bộ Xây dựng cho rằng, tiêu chí xác định công trình hạ tầng công nghiệp văn hóa còn quá rộng. Thủ tục lập danh mục, đề xuất "thành lập, công nhận, chuyển đổi công trình" có thể tạo thêm một lớp phân loại công trình và thủ tục hành chính nhưng chưa rõ hệ quả pháp lý.
Bộ Xây dựng đề nghị danh mục, nếu cần thiết, chỉ là danh mục công trình, dự án ưu tiên đầu tư hoặc hỗ trợ; không làm thay đổi quyền sở hữu, mục đích sử dụng đất, công năng, loại và cấp công trình. Bỏ các cụm từ "thành lập công trình", "chuyển đổi công trình"; việc đầu tư, cải tạo, chuyển đổi công năng và khai thác tài sản công thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.
Ban soạn thảo cho biết sẽ rà soát bỏ khoản 3, 6, gộp khoản 5 và 7 hoàn thiện dự thảo luật theo hướng phân loại công trình.
Về trách nhiệm của Bộ Xây dựng tại khoản 8 Điều 53, Bộ Xây dựng đề nghị sửa khoản 8 Điều 53 theo hướng như sau: "Bộ Xây dựng,trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chủ trì hoặc phối hợp hướng dẫn việc bố trí không gian, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật phục vụ công nghiệp văn hóa trong quy hoạch đô thị và nông thôn; quản lý kiến trúc, hoạt động đầu tư xây dựng, chất lượng công trình, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản có liên quan; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn về quy hoạch và xây dựng có liên quan theo thẩm quyền; phối hợp xây dựng, kết nối, chia sẻ dữ liệu về công trình và hạ tầng phục vụ công nghiệp văn hóa theo quy định của pháp luật".
Đồng thời, cần xác định Bộ VH,TT&DL chịu trách nhiệm về tiêu chí chuyên ngành, nhu cầu và đối tượng hỗ trợ; Bộ Xây dựng quản lý quy hoạch đô thị và nông thôn, kiến trúc và xây dựng theo chức năng, không công nhận hoặc đánh giá hiệu quả chuyên ngành của các tổ hợp, cụm, khu.
Cơ quan chủ trì soạn thảo cho biết đã tiếp thu ý kiến của Bộ Xây dựng và chỉnh sửa tại dự thảo luật.
NHNN đề nghị bỏ nội dung về tài sản bảo đảm là tài sản trí tuệ
Đóng góp ý kiến về Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cho biết, tại dự thảo luật có 2 nội dung liên quan đến trách nhiệm của NHNN.
Cụ thể, theo Khoản 2 Điều 15, NHNN chủ trì, phối hợp với Bộ VH,TT&DL, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế quản lý rủi ro, hướng dẫn tổ chức tín dụng xem xét cấp tín dụng có tài sản bảo đảm là tài sản trí tuệ hoặc quyền tài sản phát sinh từ tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; thúc đẩy phát triển các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh tín dụng và cơ chế chia sẻ rủi ro nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp công nghiệp văn hóa.
Theo Khoản 4 Điều 53, NHNN hướng dẫn việc nhận tài sản bảo đảm là tài sản trí tuệ, việc phân loại tài sản có và trích lập dự phòng rủi ro đối với khoản cấp tín dụng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; đưa hoạt động sản xuất nội dung số, trò chơi điện tử vào lĩnh vực được ưu tiên tiếp cận tín dụng.

Ban soạn thảo tiếp thu ý kiến NHNN, lược bỏ quy định về tín dụng cho công nghiệp văn hóa. (Ảnh minh họa).
NHNN đề nghị cơ quan soạn thảo bỏ 2 nội dung trên ra khỏi dự thảo luật.
Lý giải về đề xuất trên, NHNN cho biết đơn vị đã ban hành đầy đủ các cơ chế cấp tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) để phục vụ tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế, trong đó có ngành công nghiệp văn hóa.
Do đó, đối với vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp văn hóa thực hiện theo quy định chung về tín dụng hiện hành đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế khác.
Theo quy định của Luật các TCTD (Khoản 2 Điều 7, Khoản 2 Điều 100, Khoản 3 Điều 15, Khoản 7 Điều 102 Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15), TCTD có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình; việc áp dụng lãi suất và biện pháp bảo đảm do TCTD và khách hàng thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật và nhu cầu của khách hàng.
Do đó, việc giao NHNN hướng dẫn TCTD xem xét cấp tín dụng có tài sản bảo đảm là tài sản trong các ngành công nghiệp văn hóa hoặc xây dựng cơ chế quản lý rủi ro riêng cho lĩnh vực này là không phù hợp với nguyên tắc quản lý hoạt động ngân hàng theo pháp luật hiện hành.
NHNN nhấn mạnh, các quy định liên quan đến tài sản bảo đảm nói chung, tài sản bảo đảm là tài sản trí tuệ hoặc quyền tài sản phát sinh từ tài sản trí tuệ nói riêng được điều chỉnh bởi pháp luật có liên quan (Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ).
Đồng thời, theo quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước và Nghị định số 26/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối.
Do vậy, việc giao NHNN hướng dẫn việc nhận tài sản bảo đảm là không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của NHNN.
NHNN cho biết thêm, theo pháp luật các TCTD, việc phân loại tài sản có, trích lập dự phòng rủi ro được Chính phủ, NHNN quy định thống nhất, có tính áp dụng chung đối với hệ thống các tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng.
Đây là các quy định có tính chất quản lý an toàn vĩ mô, được xây dựng trên cơ sở mức độ rủi ro của từng khoản cấp tín dụng, không phân biệt theo ngành, lĩnh vực kinh tế.
Do vậy, theo NHNN, việc giao đơn vị này hướng dẫn việc phân loại tài sản có và trích lập dự phòng rủi ro đối với khoản cấp tín dụng cho hoạt động công nghiệp văn hóa là không phù hợp với cách tiếp cận của pháp luật ngân hàng, tạo tiền lệ quy định các cơ chế tín dụng đặc thù trong nhiều luật chuyên ngành khác.
Về ý kiến này, ban soạn thảo cho biết tiếp thu lược bỏ khoản 2 Điều 15 và Điều 53 dự thảo luật.
Bộ Tài chính cảnh báo rủi ro khi dùng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm trong công nghiệp văn hóa
Góp ý về chính sách phát triển công nghiệp văn hóa (Điều 6 dự thảo luật), Bộ Tài chính đề nghị Bộ VH,TT&DL nghiên cứu không quy định nội dung "Nhà nước thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với khoản vay được bảo đảm bằng tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa…" nêu tại khoản 5 Điều 6 dự thảo luật.
Bộ Tài chính lý giải, theo quy định của Luật Tổ chức tín dụng năm 2024, các TCTD có thẩm quyền xem xét, quyết định các hình thức, tài sản bảo đảm đối với khoản các khoản vay căn cứ vào phương án tài chính, hiệu quả… của dự án vay vốn.
Đồng thời, tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hoá là loại tài sản khó xác định giá trị (phụ thuộc vào cơ quan thẩm định giá, yếu tố thị trường, khả năng thương mại hóa…) nên việc chấp nhận tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm sẽ tiềm ẩn rủi ro rất cao cho các TCTD cũng như cơ chế bảo lãnh của nhà nước.
Về ý kiến này, ban soạn thảo tiếp thu ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính theo hướng chỉnh sửa tại khoản 3 Điều 5 dự thảo luật thành "thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng thông qua quỹ có chức năng bảo lãnh tín dụng theo quy định của pháp luật có liên quan đối với khoản vay được bảo đảm bằng tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa".
Ngoài ra, ban soạn thảo đề nghị được giữ lại nội dung này bởi lẽ dự thảo không quy định "Nhà nước thực hiện cơ chế bảo bảo lãnh" mà chỉ quy định "thực hiện cơ chế bảo lãnh" có nghĩa trao quyền tự chủ cho các tổ chức tín dụng căn cứ tình hình thực tế để quyết định việc cho vay hoặc không cho vay. Vì vậy không đem lại rủi ro cho các tổ chức tín dụng.

Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa dự kiến tập trung vào các chính sách về tài sản trí tuệ văn hóa, hạ tầng, nhân lực, thị trường và thu hút đầu tư nước ngoài.
Về cơ chế đồng đầu tư phát triển công nghiệp văn hóa (Điều 41dự thảo luật), theo Bộ Tài chính, hiện nay, hoạt động đầu tư tại Việt Nam được thực hiện theo Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Quản lý và đầu tư vốn của nhà nước tại doanh nghiệp.
Bộ Tài chính đề nghị Bộ VH,TT&DL rà soát "Cơ chế đồng đầu tư phát triển công nghiệp văn hoá" để thực hiện theo quy định tại các Luật trên.
Trường hợp đây là chính sách mới, Bộ VH,TT&DL cần đề xuất cụ thể tại dự thảo luật này. Trong đó xác định rõ chủ thể được giao đại diện nhà nước thực hiện đầu tư, nguồn vốn sử dụng, tỷ lệ tối đa và thẩm quyền quyết định phần vốn nhà nước; tiêu chí, phương thức lựa chọn và định giá dự án; cơ chế quản lý, giám sát, thu hồi và thoái vốn; giới hạn rủi ro và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân quyết định đầu tư.
Đây là những nội dung cốt lõi cần được cụ thể hóa ngay tại luật để bảo đảm cơ sở pháp lý vững chắc và kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách, vốn Nhà nước.
Bộ Tài chính đề nghị Bộ VH,TT&DL làm rõ mối quan hệ giữa nguyên tắc chia sẻ rủi ro quy định tại khoản 2 và nguyên tắc bảo toàn, phát triển vốn quy định tại khoản 5 trong trường hợp dự án phát sinh rủi ro, thua lỗ trong quá trình thực hiện; bảo đảm thống nhất với pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước và phù hợp với cơ chế đồng đầu tư.
Bộ Tài chính cũng đề nghị Bộ VH,TT&DL rà soát, thuyết minh làm rõ phạm vi, nội hàm, xác định rõ pháp luật áp dụng đối với các nội dung cơ quan nhà nước có thể thực hiện đồng đầu tư tại khoản 4 Điều 41 dự thảo Luật; làm rõ "khu vực tư nhân" có bao gồm nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hay không.
Trường hợp có bao gồm, việc tham gia đồng đầu tư phải tuân thủ điều kiện tiếp cận thị trường và thủ tục áp dụng tương ứng đối với nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành của Luật Đầu tư.
Về góp ý trên, Bộ VH,TT&DL cho biết tiếp thu ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính và đã bỏ cơ chế đồng đầu tư tại dự thảo luật.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận