Khi điểm nghẽn của Hệ sinh thái bắt nguồn từ Dữ liệu
Việt Nam vừa ghi thêm một dấu mốc trên bản đồ đổi mới sáng tạo thế giới khi lần đầu tiên lọt vào Top 50 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu theo Global Startup Ecosystem Index 2026 do StartupBlink công bố. Tăng năm bậc so với năm trước, đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay, phản ánh sự phát triển về số lượng startup, các quỹ đầu tư, không gian đổi mới sáng tạo và các chính sách hỗ trợ trong nhiều năm qua.
Nhưng nếu nhìn sâu hơn vào hành trình của những quốc gia dẫn đầu như Israel hay Singapore, thành công của một hệ sinh thái không chỉ được đo bằng số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp hay quy mô vốn đầu tư. Điều tạo nên lợi thế cạnh tranh lâu dài chính là khả năng đo lường, theo dõi và ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Đó cũng là thông điệp xuyên suốt được đặt ra tại hội thảo "Xây dựng cơ sở dữ liệu gắn với bộ chỉ số đo lường hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo địa phương" do Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) vừa tổ chức tại Hà Nội.

Theo ông Hoàng Ngọc Nhân, Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ phát biểu tại Hội thảo.
Ông Hoàng Ngọc Nhân, Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ cho biết: Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã hình thành mạng lưới ngày càng rộng của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, cơ sở ươm tạo và các quỹ đầu tư. Tuy nhiên, những dữ liệu phản ánh "sức khỏe" của hệ sinh thái vẫn còn phân tán ở nhiều cơ quan, thiếu tính cập nhật và chưa được chuẩn hóa để phục vụ quản trị.
Hệ quả là nhiều địa phương khó trả lời những câu hỏi tưởng như rất cơ bản: địa phương đang mạnh ở lĩnh vực công nghệ nào, doanh nghiệp nào có tốc độ tăng trưởng tốt, dòng vốn đang chảy vào ngành nào, hay chính sách hỗ trợ nào đang phát huy hiệu quả.
Không có dữ liệu đầy đủ, việc đánh giá hệ sinh thái vẫn chủ yếu dựa trên các báo cáo định kỳ hoặc thống kê rời rạc, khiến quá trình hoạch định chính sách chậm hơn thực tế phát triển của thị trường.
"Đây chính là lý do Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ và cơ sở ươm tạo công nghệ theo Quyết định số 2572/QĐ-BKHCN. Mục tiêu không chỉ là tập hợp dữ liệu mà còn hình thành một nền tảng dùng chung phục vụ quản lý, đánh giá và kết nối các thành phần của hệ sinh thái", ông Hoàng Ngọc Nhân nhấn mạnh.
Cụ thể, trong phần tọa đàm tại hội thảo, các diễn giả giới thiệu Bộ chỉ số đánh giá hệ sinh thái khởi nghiệp địa phương (PEEI) - Công cụ đo lường được xây dựng trên cơ sở tham khảo các mô hình quốc tế và điều chỉnh phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Bộ chỉ số gồm 50 chỉ số thuộc 8 trụ cột, phản ánh toàn diện hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của từng địa phương, từ hạ tầng, nguồn vốn, thể chế đến hoạt động kết nối và kết quả phát triển doanh nghiệp. Qua đó, giúp các địa phương theo dõi, so sánh, đánh giá hiệu quả chính sách và tăng cường liên kết trong phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay là thiếu nguồn dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống" để phục vụ đo lường. Nhiều dữ liệu quan trọng về dòng vốn đầu tư, các thương vụ hay hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp chưa được cập nhật đầy đủ và thống nhất, ảnh hưởng đến độ chính xác của bộ chỉ số.
Từ thực tế đó, các đại biểu đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu hệ sinh thái khởi nghiệp gắn với phát triển kinh tế dữ liệu (Data Economy). Theo cách tiếp cận này, dữ liệu không chỉ phục vụ công tác thống kê, quản lý mà còn trở thành nguồn lực tạo ra giá trị, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp.
Đề cập đến mô hình kinh tế dữ liệu, ông Chu Quang Thái - Trung tâm phát triển Doanh nghiệp KH&CN cho biết, dữ liệu đang trở thành một loại tài sản và là nguồn lực quan trọng trong nền kinh tế số. Việc thu thập, lưu trữ, phân tích và khai thác dữ liệu không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp.

Ông Chu Quang Thái - Trung tâm phát triển Doanh nghiệp KH&CN cho biết, dữ liệu đang trở thành một loại tài sản và là nguồn lực quan trọng trong nền kinh tế số.
Theo ông Thái, để phát triển kinh tế dữ liệu bền vững, cần xây dựng Ngân hàng Dữ liệu (Data Bank) đóng vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị dữ liệu. Mô hình này gồm 5 mắt xích: Hạ tầng công nghệ thông tin tạo lập và lưu trữ dữ liệu; Kết nối dữ liệu vào ngân hàng dữ liệu; Ứng dụng AI để chuyển hóa dữ liệu thành thông tin có giá trị; thương mại hóa dữ liệu phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống; đồng thời tái đầu tư để tiếp tục làm giàu nguồn dữ liệu. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao hiệu quả khai thác mà còn bảo đảm giá trị thương mại, tính toàn vẹn và quyền sở hữu dữ liệu.
"Nếu xây dựng cơ sở dữ liệu dựa trên lợi ích của một chủ thể riêng lẻ, hoặc không xác định rõ chủ thể tham gia và hưởng lợi, rất khó xây dựng được một hệ thống dữ liệu bền vững. Vì vậy, mô hình kinh tế dữ liệu cần được thiết kế theo tư duy của mô hình kinh doanh, tức là tạo ra lợi ích cho tất cả các bên tham gia", ông Chu Quang Thái nhấn mạnh.
Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo từ cơ sở
Trình bày về mô hình Tổ hợp Đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và hỗ trợ công nghệ cấp xã, phường (Tech Station), Bà Đặng Thanh Mai - Chuyên gia đề tài Tech Station cho biết, đây sẽ là "điểm chạm" đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến gần hơn với người dân và doanh nghiệp ở cơ sở.
Theo đó, Tech Station được định hướng trở thành trung tâm kết nối giữa chính quyền, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng, không chỉ hỗ trợ kỹ thuật mà còn tạo môi trường thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và chuyển giao công nghệ ngay tại địa phương.

Trong khuôn khổ Hội thảo đã diễn ra Toạ đàm "Đại lộ số - Hạ tầng cho nền kinh tế dữ liệu và vai trò của hệ thống Doanh nghiệp công nghệ".
Mô hình này cũng được xây dựng trên quan điểm phát triển kinh tế nội sinh, lấy con người, tri thức và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng. Ba trụ cột chính gồm: Nâng cao năng lực nguồn nhân lực địa phương; Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; đồng thời tăng cường tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ công nghệ để nâng cao giá trị sản phẩm, dịch vụ.
"Việc hình thành Tech Station tại cấp xã, phường sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các nhóm khởi nghiệp tiếp cận hạ tầng công nghệ, không gian đào tạo, thiết bị nghiên cứu, trình diễn và các nền tảng số mà trước đây khó có khả năng tự đầu tư. Qua đó, góp phần đưa tri thức và công nghệ vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội từ cơ sở", Bà Đặng Thanh Mai nói.
Cần nền tảng dữ liệu với cấu trúc và biểu mẫu thống nhất
Trong khuôn khổ Hội thảo đã diễn ra Toạ đàm "Đại lộ số - Hạ tầng cho nền kinh tế dữ liệu và vai trò của hệ thống Doanh nghiệp công nghệ". Chia sẻ từ thực tiễn, Giám đốc Đầu tư Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Bách khoa Hà Nội Phạm Tuấn Hiệp cho biết, hiện nhiều trường đại học, trong đó có Đại học Bách khoa Hà Nội, chưa có đơn vị chuyên trách về thống kê và quản trị dữ liệu trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp.
Các trường đại học hiện nay chủ yếu thống kê những chỉ số đầu vào (input) và đầu ra (output) của các chương trình, dự án, trong khi còn thiếu hệ thống dữ liệu được cập nhật liên tục để theo dõi toàn bộ quá trình triển khai cũng như đánh giá tác động xã hội của hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

Các chuyên gia, cơ quan quản lý và các khách mời chụp hình lưu niệm sau hội thảo.
Ông nhấn mạnh: " Hiện chúng tôi chưa có nơi tích lũy dữ liệu, chưa có dòng chảy dữ liệu được cập nhật thường xuyên. Đây không chỉ là thực trạng của Đại học Bách khoa Hà Nội mà còn khá phổ biến ở nhiều trường đại học khác", ông Hiệp nói.
Theo ông Hiệp, việc xây dựng một hệ thống dữ liệu đầy đủ và liên tục sẽ giúp các cơ sở giáo dục theo dõi hiệu quả hoạt động đổi mới sáng tạo, đồng thời cung cấp cơ sở cho công tác quản lý, hoạch định chính sách và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong nhà trường.
Từ góc độ quản lý địa phương, Phó Giám đốc Sở KH&CN Quảng Ninh Vũ Thị Kim Chi cho biết, một trong những khó khăn hiện nay là chưa có sự thống nhất trong cách hiểu và định nghĩa về doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Điều này dẫn đến việc thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương còn thiếu đồng bộ, khiến số liệu có sự chênh lệch.
Theo bà Chi, dữ liệu về doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hiện còn phân tán ở nhiều cơ quan, tổ chức, chưa được kết nối và chuẩn hóa thành một cơ sở dữ liệu thống nhất, gây khó khăn cho công tác thống kê, quản lý và cập nhật.
Để khắc phục tình trạng này, bà Chi đề xuất xây dựng một nền tảng dữ liệu với cấu trúc và biểu mẫu thống nhất trên toàn quốc, đồng thời ban hành cơ chế rõ ràng về phân quyền, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần giúp doanh nghiệp nhận thức rõ quyền lợi khi cung cấp dữ liệu, qua đó nâng cao chất lượng và tính đầy đủ của cơ sở dữ liệu về hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Xuân Tài, Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Naiscorp Robotics đồng tình với quan điểm cần xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ. Ông Tài cho rằng, startup không thể phát triển một cách đơn lẻ mà cần được đặt trong một hệ sinh thái với sự tham gia của nhà đầu tư, khách hàng, đối tác, nhà cung cấp và các diễn đàn kết nối. Vì vậy, việc chia sẻ và cập nhật dữ liệu là yếu tố tất yếu để doanh nghiệp tăng khả năng kết nối với các nguồn lực, đặc biệt là tiếp cận nhà đầu tư.
Ông Tài nhấn mạnh, doanh nghiệp cần chủ động tham gia hệ sinh thái bằng cách thường xuyên cập nhật dữ liệu, xem đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là lợi ích của chính mình. Khi dữ liệu được chia sẻ đầy đủ và minh bạch, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội kết nối, huy động nguồn lực và trở thành một thành tố tích cực trong hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận