Phát biểu thảo luận tại Tổ 2 (Đoàn TP.HCM), đại biểu Phạm Khánh Phong Lan cho rằng, việc tăng mức phạt tiền có thể tạo hiệu quả răn đe rõ rệt, song cần căn cứ vào thực tế thu nhập, tránh đẩy người vi phạm vào hoàn cảnh khó khăn.
Đại biểu đồng thời đề xuất nghiên cứu bổ sung hình thức lao động công ích và rà soát các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.

Đại biểu Phạm Khánh Phong Lan.
Theo đại biểu, thực tiễn xử phạt vi phạm nồng độ cồn và vi phạm giao thông cho thấy, việc nâng mức phạt đã tạo chuyển biến về ý thức chấp hành pháp luật. Người điều khiển phương tiện chủ động không uống bia, rượu; những người cùng tham gia bữa tiệc cũng hạn chế ép nhau uống khi biết có người phải lái xe.
Đại biểu cho rằng, mức phạt có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật. Đại biểu ủng hộ việc nâng mức xử phạt vi phạm hành chính, nhưng nhấn mạnh cần xem xét trên cơ sở thực tế thu nhập của người dân.
Với đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng với cá nhân và từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng với tổ chức, đại biểu đề nghị cân nhắc tính hợp lý của mức tăng. Đồng thời rà soát mức phạt cụ thể trong từng lĩnh vực.
Đối với lĩnh vực giao thông đường bộ, đại biểu cho rằng tăng mức phạt là giải pháp lập lại trật tự, nhưng cần tránh mức phạt quá cao so với khả năng tài chính của người dân.
Đại biểu dẫn ví dụ, hành vi vượt đèn đỏ có thể bị phạt 18-20 triệu đồng đối với ô tô và 4-6 triệu đồng đối với xe máy, kèm theo trừ điểm giấy phép lái xe.
Theo đại biểu, mức phạt ở các quốc gia cần được so sánh trong tương quan với thu nhập và điều kiện kinh tế. Nếu tiền phạt lớn hơn giá trị phương tiện, người vi phạm có thể bỏ xe, trong khi phương tiện đó vốn là công cụ kiếm sống.
Việc xử phạt khi đó không chỉ tác động đến người vi phạm mà còn có thể kéo theo những hệ lụy xã hội. Vì vậy, cần rà soát tổng thể mức phạt, bảo đảm tính răn đe nhưng không tạo gánh nặng bất hợp lý cho người dân, doanh nghiệp.
Liên quan đến các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, đại biểu Phong Lan cho rằng, mục tiêu là bảo đảm người vi phạm chấp hành pháp luật, không phải khiến họ mất hoàn toàn khả năng hoạt động, sản xuất, kinh doanh.
Theo đại biểu, các biện pháp như cắt điện, nước, Internet hoặc dừng đăng kiểm cần được xem xét thận trọng, nhất là khi có nguy cơ khiến hoạt động của người vi phạm bị đình trệ hoàn toàn. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cần tương xứng với tính chất vi phạm, tránh gây tác động vượt quá mục tiêu xử lý.
Đại biểu đề xuất nghiên cứu bổ sung hình thức lao động công ích đối với những trường hợp phù hợp. Với một số người vi phạm, việc tăng tiền phạt chưa chắc tạo ra tác động đáng kể; trong khi đó, yêu cầu đóng góp công sức cho cộng đồng có thể giúp họ nhận thức rõ hơn về trách nhiệm và hậu quả của hành vi vi phạm.
Đại biểu cũng đề nghị có giải pháp xử lý tình trạng doanh nghiệp né tránh trách nhiệm bằng cách đóng cửa cơ sở vi phạm rồi thành lập doanh nghiệp mới hoặc sử dụng người khác đứng tên, làm giảm hiệu quả thực thi quyết định xử phạt.

Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy.
Cùng góp ý về dự thảo Luật, đại biểu Trần Thị Diệu Thúy đề nghị làm rõ nguyên tắc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tại Điều 25, bảo đảm việc xác định mức phạt căn cứ vào mức độ vi phạm, thống nhất giữa các cơ quan thực thi và hạn chế yếu tố chủ quan.
Đối với Điều 74, đại biểu Thúy đề nghị quy định chặt chẽ điều kiện áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người chưa chấp hành quyết định xử phạt. Theo đó, cần làm rõ ngưỡng tiền phạt chưa nộp, căn cứ xác định nguy cơ trốn tránh, thẩm quyền quyết định, thời hạn áp dụng và trách nhiệm thông báo cho người bị áp dụng biện pháp.
Đại biểu cho rằng, có trường hợp khoản tiền phạt hoặc nợ thuế còn thấp nhưng người liên quan vẫn bị hạn chế xuất cảnh, thậm chí không biết mình có khoản nợ. Điều này có thể khiến họ phát sinh chi phí, chịu thiệt hại do đã hoàn tất thủ tục đi lại và gặp khó khăn khi thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, việc tạm hoãn xuất cảnh cần có căn cứ cụ thể, không nên tự động áp dụng chỉ vì người vi phạm chưa chấp hành quyết định xử phạt.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 2 (Đoàn TP.HCM).
Một nội dung khác được đại biểu Trần Thị Diệu Thúy đề cập là tình trạng doanh nghiệp không chấp hành quyết định xử phạt trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội. Từ thực tiễn công tác tại UBND TP.HCM, đại biểu cho biết nhiều doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội nhưng việc thực hiện quyết định xử phạt gặp khó khăn do doanh nghiệp không chấp hành.
Đại biểu đề xuất nghiên cứu bổ sung biện pháp cưỡng chế đối với các trường hợp này, trong đó có thể xem xét yêu cầu cơ quan thuế tạm dừng sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp khi cần thiết, nhằm nâng cao hiệu lực thực thi quyết định xử phạt và bảo vệ quyền lợi người lao động.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận