Lỡ đơn hàng vì thiếu người làm
Trong một cuộc họp nội bộ về định hướng phát triển chiến lược "xanh" của Công ty TNHH MTV Sản phẩm Thiên nhiên Trà My, bà Nguyễn Thị Trà My, Giám đốc công ty cùng các cộng sự thẳng thắn nhìn nhận: Điểm nghẽn trong quá trình sản xuất là nguyên liệu đầu vào chưa đồng đều, khó đạt chuẩn "xanh" ổn định. Các quy trình sơ chế, bảo quản chưa tối ưu, dễ phát sinh hao hụt bởi không đủ nhân sự để kiểm tra, đánh giá nhà cung cấp nguyên liệu.

Nhân lực đang là một trong những “nút thắt” lớn trong hành trình chuyển đổi xanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong khi đó, để được coi là nguyên liệu "xanh", đội ngũ phụ trách không chỉ cần kỹ năng nông nghiệp hoặc thu mua, mà còn phải nắm chắc các yêu cầu như: Hiểu tiêu chuẩn ESG và chứng nhận môi trường; kiểm soát được quy trình trồng trọt/thu hái bền vững; thiết lập được hệ thống truy xuất nguồn gốc; làm việc được với nhà cung cấp theo tiêu chuẩn quốc tế...
Theo bà My, từ nguyên liệu, bao bì đến quy trình sản xuất, mọi khâu đều được đặt trong yêu cầu phải thân thiện với môi trường và phát triển bền vững. Thế nhưng, khi đi sâu vào triển khai, câu hỏi khó nhất lại không nằm ở vốn hay công nghệ, mà là ai sẽ làm và làm như thế nào để đúng chuẩn "xanh"?
"Do vậy, hai yếu tố công ty phải đối mặt và giải quyết là tài chính xanh và nhân sự được đào tạo bài bản", bà My nói và cho biết thêm: Không chỉ thiếu nhân lực mới, việc đào tạo lại đội ngũ nhân sự cũng là bài toán nan giải, đòi hỏi thời gian, chi phí và sự kiên trì.
Tương tự, ông Trần Ngọc Anh, Quản lý khu vực Miền Bắc của Công ty TNHH Tương Lai cho biết: Hiện doanh nghiệp có khoảng 150 lao động, nhu cầu nhân lực "xanh" cần 20%, song mới đáp ứng được một nửa. Phần thiếu hụt chủ yếu tập trung vào các vị trí then chốt như: Kỹ thuật tối ưu năng lượng, vật liệu; quản trị môi trường, đo lường phát thải; chuỗi cung ứng và truy xuất nguồn gốc.
Thực tế trên khiến doanh nghiệp gặp khó khi đánh giá nhà cung cấp đạt chuẩn môi trường; hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu sang thị trường khó tính...
Cũng rơi vào tình cảnh tương tự, lãnh đạo một doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm sạch cho biết, dù có kế hoạch mở rộng chuỗi sản phẩm hữu cơ, nhưng do thiếu nhân sự kiểm soát vùng nguyên liệu khiến sản lượng không ổn định. Kết quả là đơn hàng lớn bị bỏ lỡ vì không đảm bảo tiêu chuẩn đồng nhất.
Cần hệ sinh thái hỗ trợ chuyển đổi
Kết quả khảo sát thực tế từ hơn 2.700 doanh nghiệp mới đây của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho thấy, nguyên nhân khiến quá trình chuyển đổi xanh chưa được đẩy mạnh là thiếu vốn đầu tư. Đây là thách thức lớn nhất được 50% doanh nghiệp lựa chọn; tiếp theo là thiếu nhân sự kỹ thuật phù hợp (46%) và thiếu giải pháp công nghệ xanh (42%).
Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin, hồ sơ kỹ thuật và yêu cầu từ ngân hàng, khiến họ khó đáp ứng tiêu chí tiếp cận tín dụng xanh.
Xét ở góc độ thị trường, chuyển đổi "xanh" ban đầu khiến chi phí tăng lên, từ nguyên liệu sạch, bao bì thân thiện môi trường đến quy trình sản xuất. Nhưng về dài hạn, doanh nghiệp lại thu được nhiều lợi ích rõ rệt: Khách hàng tin tưởng hơn, thương hiệu được định vị rõ ràng và năng lực cạnh tranh được củng cố.
Theo bà Trà My, "xanh" không chỉ là chi phí, mà là khoản đầu tư cho niềm tin và tương lai. Do vậy, bà My kiến nghị cần có các chương trình hỗ trợ miễn phí về chuyển đổi xanh và kết nối thị trường cho sản phẩm xanh.
Rào cản tài chính, kiến thức chuyên sâu
Liên quan đến nguồn nhân lực "xanh" tại các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp có nhiều nhân lực nữ nói riêng, ông Phạm Minh Mận, chuyên gia năng lượng tái tạo, thành viên Hiệp hội chuyển đổi xanh Việt Nam - VGA cho rằng: Doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ tại Việt Nam đã bắt đầu tiếp cận kinh doanh xanh, nhưng mức độ còn hạn chế do thiếu chuyên môn và thiếu sự đồng bộ trong ứng dụng công nghệ và sử dụng nhân lực trong toàn bộ chuỗi giá trị.
Ông Mận đề xuất, cần xây dựng các bài toán cụ thể từ thực tế doanh nghiệp để làm case study (nghiên cứu tình huống), từ đó phát triển các chương trình đào tạo và hỗ trợ mang tính "may đo". Việc đồng thiết kế giữa doanh nghiệp và đơn vị đào tạo sẽ giúp tạo ra giải pháp sát thực tế hơn.
Theo ông Mận, dù tỷ lệ doanh nghiệp nữ tham gia chuyển đổi xanh đang tăng (trên 20%), nhưng các kỹ năng thực tế như đổi mới mô hình kinh doanh, chuyển đổi năng lượng hay áp dụng kinh tế tuần hoàn còn hạn chế. Đặc biệt, nguồn nhân lực xanh, trong đó lao động nữ chiếm hơn 25% vẫn là yếu tố phụ thuộc lớn.
Bà Mai Thị Diệu Huyền, Phó chủ tịch Phụ trách Hội đồng Doanh nhân nữ Việt Nam (VWEC), thuộc VCCI thì cho rằng, "rào cản" đang khiến nhóm doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ chậm chuyển đổi trước hết là tài chính, khi họ khó tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi cho chuyển đổi xanh, thiếu tài sản thế chấp và cơ chế bảo lãnh rủi ro.
Thứ hai là rào cản về kiến thức, nhiều doanh nghiệp chưa hiểu rõ các tiêu chuẩn xanh như ESG hay các chỉ số giảm phát thải carbon. Thứ ba là rào cản về mạng lưới. Doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt do phụ nữ làm chủ, ít tham gia vào các chuỗi cung ứng lớn, dẫn đến khó kết nối với hệ sinh thái kinh doanh xanh.
Bà Huyền cho biết, để hỗ trợ giải quyết những vướng mắc trên, VWEC đã và đang triển khai nhiều hoạt động đào tạo nâng cao năng lực, cung cấp thông tin và kết nối doanh nghiệp với các chương trình hỗ trợ quốc tế, đưa các gói tín dụng xanh đến gần hơn với doanh nghiệp…
Báo cáo mới đây của Ban IV cho thấy, trong số 2.700 doanh nghiệp được điều tra, 64% doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa thực hiện bất kỳ hành động chuyển đổi xanh nào, trong khi chỉ khoảng 5,5% doanh nghiệp đã cắt giảm phát thải trong một số hoạt động và 3,8% đã theo dõi, công bố kết quả giảm phát thải.
Con số này cho thấy, phần lớn doanh nghiệp vẫn ở giai đoạn chuẩn bị, chưa chuyển sang hoạch định hoặc thực thi các giải pháp xanh cụ thể.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận