Nông sản, thổ cẩm lên "chợ số"
Trước đây, người làm thổ cẩm thường mang sản phẩm ra chợ. Trang phục được dệt công phu nhưng không phải lúc nào cũng gặp đúng người cần mua; người muốn tìm một bộ đồ truyền thống đôi khi cũng không biết hỏi ở đâu. Mạng xã hội đang mở thêm một lối kết nối, bắt đầu từ những bức ảnh và cuộc trò chuyện trên điện thoại.

Từ bài đăng giới thiệu trang phục thổ cẩm đến những buổi livestream tại vườn sầu riêng, người dân Đắk Lắk đang tập làm quen với cách quảng bá, kết nối khách hàng trên môi trường số (Ảnh: Ngọc Hùng).
Chị H’Noel Niê từng đăng ảnh trang phục thổ cẩm lên mạng xã hội để giới thiệu giúp người thân. Những bức ảnh giản dị nhận được nhiều sự quan tâm. Người xem nhắn tin hỏi mua, hỏi thuê; từ đó, chị kết nối với bà con, đặt dệt và may thêm trang phục để có mẫu phục vụ khách.
Từ việc giới thiệu sản phẩm, chị H’Noel dần nhận bán và cho thuê trang phục thổ cẩm người đồng bào Ê-đê. Khách ở các xã như Ea Trang, Cư Prao có thể xem mẫu, hỏi giá và liên hệ qua Zalo, Facebook mà không phải đi xa.
Trang phục thường được thuê trong dịp cưới hỏi, tân gia, thôi nôi, mừng thọ hoặc lễ hội buôn làng. Với nhiều gia đình, thuê một bộ đồ dệt thủ công phù hợp hơn so với mua; khách có thể chọn kiểu truyền thống hoặc cách tân theo nhu cầu.
Chị vui khi ngày càng có thêm người mặc trang phục truyền thống trong những dịp quan trọng. Mỗi tin nhắn hỏi thuê, hỏi mua cho thấy váy áo thổ cẩm vẫn có chỗ trong đời sống hôm nay.

Từ việc giới thiệu sản phẩm trên mạng xã hội, chị H’Noel nhận bán, cho thuê trang phục thổ cẩm Ê Đê. Khách ở Ea Trang, Cư Prao có thể xem mẫu, hỏi giá và liên hệ qua Zalo, Facebook (Ảnh: NVCC).
Cách làm ấy cũng đang được áp dụng với nông sản. Trước đây, mỗi vụ sầu riêng, chị Nguyễn Thị Xiêm, ngụ xã Krông Pắc, thường mua, cắt quả rồi mang ra chợ bán. Từ khi biết sử dụng Facebook, Zalo, chị đăng ảnh, livestream giới thiệu sầu riêng, gà vườn và nhận giao hàng tận nơi.
"Ban đầu, tôi còn bỡ ngỡ, lúng túng, nhưng làm riết rồi quen. Có hàng là tôi đăng bán; hôm nào không đăng, nhiều người lại nhắn hỏi mua. Tôi thấy rất vui", chị Xiêm chia sẻ.
Lúc đầu, chị còn lúng túng khi chụp ảnh, viết thông tin hay livestream. Làm nhiều lần, chị dần quen với việc đăng bán và nhận đơn qua điện thoại.
Ở phường Cư Bao, người trực tiếp chăm sóc cây sầu riêng cũng xuất hiện trong các buổi livestream giới thiệu sản phẩm. Bà H’Hlăm Ayun, công nhân Tổ 3, nông trường Cư Bao, Công ty Cao su Đắk Lắk, gắn bó với vườn cây từ khi xuống giống đến lúc thu hoạch.

Không chỉ bán thổ cẩm, sầu riêng, người dân Đắk Lắk đang từng bước học tập, chuyển đổi số để đưa các mặt hàng khác quảng báo, tiếp cận nhanh nhất với khách hàng (Ảnh: Ngọc Hùng).
"Chăm sóc sầu riêng thì mưa vẫn đi làm bình thường, thu nhập ổn định hơn so với cạo mủ cao su. Sầu riêng của nông trường được livestream để quảng bá ra thị trường Việt Nam và nước ngoài thì tôi rất phấn khởi", bà H Hlăm Ayun nói.
Người trực tiếp chăm sóc cây xuất hiện trong buổi livestream, giúp người xem biết thêm về người trồng và công việc chăm sóc, thu hái sầu.
Chị Nguyễn Thị Hữu Nhung, cán bộ Trung tâm Cung ứng dịch vụ công phường Cư Bao, chia sẻ: Được quảng bá nông sản quê hương trên nền tảng số, mình cảm thấy rất tự hào. Mình mong muốn đưa thêm nhiều sản phẩm của địa phương lên các nền tảng này.
Để chuyển đổi số đi vào đời sống người dân
Đưa sản phẩm lên nền tảng số giúp người sản xuất có thêm cơ hội quảng bá và tìm kiếm khách hàng. Người mua dễ tiếp cận thông tin về sản phẩm, người làm ra sản phẩm và nơi sản xuất. Với thổ cẩm Ê-đê, đó là những bài đăng giúp khách tìm được mẫu trang phục cần mua hoặc thuê. Với nông sản, đó có thể là hình ảnh vườn cây, sản phẩm và người trực tiếp chăm sóc.

Người dân Đắk Lắk đang quảng bá sản phẩm, kết nối khách hàng trên môi trường số để tìm thêm đầu ra cho nông sản (Ảnh: Ngọc Hùng).
Tuy nhiên, có mặt trên mạng xã hội mới là bước đầu. Để duy trì đầu ra, người sản xuất còn cần bảo đảm chất lượng, đáp ứng nhu cầu khách hàng và chủ động trong khâu tiêu thụ. Việc gắn sản xuất với thị trường đòi hỏi nông dân thay đổi cách nghĩ: không chỉ làm ra sản phẩm mà còn phải biết giới thiệu, tìm khách và tính toán cách đưa hàng đến người mua.
Tại xã Ea Knuếc, cán bộ địa phương cũng trực tiếp tham gia giới thiệu nông sản trên mạng xã hội. Bà Ngô Thị Minh Trinh, Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc cho rằng, chuyển đổi số không chỉ triển khai trong phòng làm việc. Cán bộ cùng xuống vườn, đồng hành với người dân để nhận ra khó khăn và tìm cách tháo gỡ.
Qua từng phiên livestream, địa phương nhìn lại cách làm, ghi nhận điểm hiệu quả và hạn chế để tiếp tục điều chỉnh.
Theo bà Trinh, livestream không chỉ giới thiệu sản phẩm, mà còn quảng bá hình ảnh, văn hóa và con người địa phương. Đắk Lắk có nhiều nông sản như sầu riêng, cà phê, hồ tiêu, mắc ca, ca cao và các sản phẩm OCOP. Đưa hàng lên môi trường trực tuyến được kỳ vọng giúp người sản xuất quảng bá, tìm khách, kết nối tiêu thụ; người mua có thêm thông tin về nơi làm ra sản phẩm.
Có mặt trên mạng xã hội mới là bước đầu. Muốn duy trì đầu ra, người bán vẫn phải bảo đảm chất lượng, đáp ứng nhu cầu và chủ động tiêu thụ. Bên cạnh sản xuất, nông dân cần làm quen với việc chụp ảnh, viết nội dung, trả lời khách, livestream và xây dựng thương hiệu.
AI có thể hỗ trợ viết nội dung, xây dựng kịch bản, tạo hình ảnh, video và trả lời khách hàng. Thông tin kỹ thuật sản xuất cần được kiểm chứng trước khi áp dụng. Người bán cũng cần tìm hiểu quy định, chi phí, chính sách hoàn trả của sàn thương mại điện tử và cảnh giác với lừa đảo trực tuyến.

Bà Ngô Thị Minh Trinh, Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc kỳ vọng bán hàng trực tuyến giúp người sản xuất kết nối khách mua, tìm thêm đầu ra (Ảnh: Ngọc Hùng).
Hội Nông dân tỉnh Đắk Lắk sẽ tiếp tục hỗ trợ hội viên mở rộng kênh bán hàng số, tiếp cận công nghệ chế biến sâu; hỗ trợ vốn qua Quỹ Hỗ trợ nông dân, tập huấn nhận ủy thác với ngân hàng và bồi dưỡng kỹ năng sản xuất, kinh doanh.
Bà H Giang Niê, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Đắk Lắk cho biết, chất lượng nông sản ngày càng được nâng lên nhưng việc đưa sản phẩm đến thị trường vẫn còn khó khăn. Thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh chuyển đổi số, các cấp Hội sẽ hướng dẫn nông dân theo cách "cầm tay chỉ việc", đưa công nghệ vào từng công đoạn, từ sản xuất, quảng bá đến tiêu thụ trên các nền tảng số.
"Nhiều nông dân còn lúng túng khi đứng trước ống kính: chưa biết nên nói gì, giới thiệu sản phẩm ra sao để người xem hiểu giá trị hàng hóa. Sản phẩm không chỉ là mặt hàng mà còn gắn với quá trình sản xuất và tâm huyết của người làm ra nó", bà nói.
Bà bà H’Giang Niê nhấn mạnh: Nông dân cần thay đổi tư duy, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường. Giai đoạn tới, Hội sẽ tăng hỗ trợ thực hành kỹ năng quảng bá trên nền tảng số, vận động hội viên liên kết, tham gia kinh tế tập thể và tiếp cận công nghệ chế biến sâu, hướng tới đầu ra ổn định, cung ứng sản phẩm quanh năm.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Hồ Thị Nguyên Thảo nhấn mạnh, mục tiêu của phong trào "Bình dân học vụ số" không nằm ở số lượng tài khoản hay ứng dụng được cài đặt, mà ở khả năng người dân sử dụng công nghệ trong đời sống. Người dân cần biết dùng nền tảng số phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh và tự bảo vệ mình trước nguy cơ lừa đảo trên mạng.
Theo bà Thảo, mỗi kỹ năng số được trang bị sẽ mở thêm cơ hội tiếp cận tri thức, dịch vụ và sinh kế. Với người dân làm nông nghiệp, điều đó có thể bắt đầu từ việc biết chụp ảnh, đăng thông tin sản phẩm, livestream giới thiệu hàng hóa, rồi từng bước tìm kiếm khách hàng trên môi trường số.
"Khi người dân sử dụng được công nghệ vào công việc hằng ngày và nhận thấy lợi ích thiết thực, chuyển đổi số mới thực sự đi vào đời sống", bà Thảo nói.
Thí điểm 4 mô hình, đánh giá bằng hiệu quả thực tế
Đắk Lắk triển khai thí điểm 4 mô hình: "Công dân số tiêu biểu", "Thôn/buôn/khu phố số tiêu biểu", "Nông thôn số - Làm giàu từ công nghệ" và "Thôn/buôn số - vùng đồng bào dân tộc thiểu số".
Trong năm 2026, mỗi mô hình được thực hiện tại 3 địa phương, tổng cộng 12 xã, phường. Tỉnh xây dựng 4 bộ tiêu chí theo thang 100 điểm, tập trung đánh giá việc người dân có sử dụng được công nghệ, tiếp cận dịch vụ số và ứng dụng vào đời sống, sản xuất, kinh doanh hay không.
Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tài liệu và cách hướng dẫn được điều chỉnh theo ngôn ngữ, văn hóa, trình độ; ưu tiên hình ảnh, video và thực hành trên thiết bị cá nhân. Sau thí điểm, các mô hình sẽ được đánh giá, thẩm định để xem xét công nhận và nhân rộng từ năm 2027.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận