Từ những công nghệ cốt lõi
Giữa tháng 8, khi các dự án đường sắt quan trọng quốc gia đang được triển khai gấp rút, một nhiệm vụ khác cũng đang được Bộ Xây dựng khẩn trương thúc đẩy: Hoàn thiện các thủ tục để phê duyệt những nhiệm vụ khoa học, phát triển công nghệ chiến lược cho lĩnh vực đường sắt.

Đường sắt đặt mục tiêu đến năm 2045 hình thành hệ sinh thái công nghiệp thông tin tín hiệu đường sắt, làm chủ công nghệ sản xuất, bảo trì... (Ảnh minh họa tạo bởi AI)
Theo ông Lê Hoàng Anh, Phó trưởng phòng phụ trách Phòng Khoa học công nghệ - Môi trường và Hợp tác quốc tế, Cục Đường sắt Việt Nam, Bộ Xây dựng đã rà soát, xây dựng và đề xuất các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị, gửi Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định.
Danh mục nhiệm vụ được xây dựng xoay quanh những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực công nghệ trong nước. Trong đó, có nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất ray, phụ kiện, bộ ghi đường sắt đô thị; ray, phụ kiện đường sắt tốc độ cao; nghiên cứu, phát triển kết cấu ray cho đường sắt tốc độ cao.
Một hướng nghiên cứu khác tập trung vào vật liệu, xử lý đất yếu nền đường và vùng chuyển tiếp công trình đường sắt tốc độ cao, nhằm kiểm soát lún dài hạn, bảo đảm an toàn khai thác.
Ở lĩnh vực thông tin tín hiệu, các nhiệm vụ đề xuất gồm nghiên cứu, phát triển mạng 5G dành cho đường sắt tốc độ cao; hệ thống liên khóa máy tính (CBI) phục vụ điều khiển chạy tàu đường sắt quốc gia, định hướng mở rộng cho đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao.
Bộ Xây dựng đề xuất nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số chi tiết, cụm chi tiết cốt lõi của phương tiện giao thông đường sắt, phục vụ nội địa hóa ngành công nghiệp đường sắt; nghiên cứu, thiết kế, chế tạo toa xe công vụ đạt cấp chống đạn cấp 2 theo tiêu chuẩn STANAG 4569. Xây dựng hệ thống các phòng thí nghiệm, thử nghiệm trọng điểm quốc gia về đường sắt.
Không dừng ở nhận chuyển giao
Theo ông Lê Văn Dương, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cụ thể cho Bộ Xây dựng về phát triển các công nghệ chiến lược đường sắt.
Trọng tâm là từng bước làm chủ công nghệ xây dựng hạ tầng đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa tại Việt Nam, từ khảo sát, thiết kế, thi công đến sản xuất cấu kiện, phù hợp với điều kiện địa chất, khí hậu và năng lực công nghiệp trong nước. Cùng đó, hình thành năng lực tự xây dựng, bảo trì, sửa chữa công trình đường sắt.
Nhiệm vụ này gắn với yêu cầu huy động nguồn lực, từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao, làm chủ và nội địa hóa công nghệ trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt điện khí hóa.
Theo ông Dương, đây đều là những vấn đề mới, phức tạp, chuyên sâu, yêu cầu kỹ thuật cao và lần đầu được nghiên cứu, triển khai. Bởi vậy, bài toán không dừng ở việc nhận chuyển giao một công nghệ có sẵn. Mục tiêu lớn hơn là tạo ra năng lực để tiếp nhận, vận hành, cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ ngay trong nước.
Doanh nghiệp được xác định là trung tâm nội địa hóa công nghệ. Mô hình "3 nhà" được đặt vào vị trí quan trọng: Nhà nước đóng vai trò điều phối, kiến tạo, đặt hàng; viện - trường thực hiện nghiên cứu, đào tạo, xác thực công nghệ; doanh nghiệp triển khai, sản xuất và công nghiệp hóa.
Ông Hoàng Năng Khang, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam (VNR) cho biết, Bộ Xây dựng đã huy động nhiều đơn vị nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp, hội khoa học kỹ thuật, chuyên gia trong và ngoài ngành. Các đơn vị quốc phòng như Viettel, Viện Công nghệ (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng); các doanh nghiệp tư nhân như Hòa Phát, THACO… đều sẵn sàng tham gia.
Tuy nhiên, theo ông Khang, để những sản phẩm nghiên cứu thực sự đi vào thực tiễn cần có hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu. Việc hình thành một tổ hợp công nghiệp đường sắt hiện đại, với các khu sản xuất, lắp ráp, trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm… sẽ tạo thuận lợi cho việc ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu.
Xác định rõ lộ trình
Cùng với nghiên cứu, yêu cầu chuyển giao công nghệ các dự án đường sắt lớn là điều kiện quan trọng để từng bước nâng cao năng lực trong nước.
Ông Chu Văn Tuân, Phó giám đốc Ban Quản lý dự án đường sắt (Bộ Xây dựng), cho biết Dự án đầu tư xây dựng đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng hiện vẫn đang lập báo cáo nghiên cứu khả thi, chưa đưa nội dung chuyển giao công nghệ vào nghiên cứu.
Tuy nhiên, các nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đều yêu cầu nhà thầu ưu tiên sử dụng các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà trong nước có thể sản xuất, cung cấp.
Với các gói thầu áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu quốc tế, phải có điều kiện cam kết của nhà thầu về việc chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực cho đối tác Việt Nam.
Theo chuyên gia giao thông Nguyễn Ân, cần xác định rõ lộ trình và phạm vi Việt Nam muốn làm chủ. Đồng thời, các đơn vị, doanh nghiệp trong nước cũng cần chủ động nâng cao năng lực để sẵn sàng tiếp nhận công nghệ.
Những nhiệm vụ khoa học công nghệ chiến lược đang được triển khai là những bước đi đặt nền móng ban đầu. Nhưng để những nền móng ấy trở thành năng lực thực tế, quá trình triển khai cần có sự tham gia, thẩm định của các nhà nghiên cứu, chuyên gia khoa học đầu ngành, giàu kinh nghiệm.
VNR đã lập dự án đầu tư tổ hợp công nghiệp đường sắt trên diện tích 250ha với khoảng 25 phân khu chức năng hạ tầng hiện đại.
Mục tiêu là lắp ráp trong nước và từng bước nội địa hóa phương tiện đối với đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị, tiến tới làm chủ toàn bộ công tác vận hành, bảo trì. Đồng thời, từng bước sản xuất một số linh kiện, phụ tùng thay thế cho đường sắt tốc độ cao.
Dự án cũng được xác định là địa điểm tiếp nhận chuyển giao công nghệ, đầu tư máy móc, thiết bị và sản xuất đầu máy, toa xe cho đường sắt quốc gia có tốc độ khai thác dưới 200km/h; đồng thời mua thiết kế và tổ chức sản xuất toa xe EMU cho đường sắt đô thị.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận