Dự báo chuẩn nhu cầu, tránh lãng phí nguồn lực
Sáng 9/4, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Danh Huy chủ trì cuộc họp về báo cáo đầu kỳ quy hoạch các tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn kết nối Trung Quốc, gồm tuyến Đồng Đăng – Hà Nội và tuyến Móng Cái – Hạ Long – Hải Phòng.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Danh Huy đề nghị tư vấn lập quy hoạch làm rõ nhiều nội dung nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư ngay từ giai đoạn quy hoạch.
Báo cáo thuộc dự án hỗ trợ kỹ thuật do phía Trung Quốc viện trợ, do Công ty Hữu hạn Tập đoàn Viện Khảo sát Thiết kế số 4 đường sắt Trung Quốc (Viện 4) thực hiện.
Tại cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Danh Huy đề nghị đơn vị tư vấn làm rõ nhiều nội dung nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư ngay từ giai đoạn quy hoạch. Đánh giá bước đầu báo cáo đã có phân tích, so sánh các phương án, Thứ trưởng cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để lựa chọn phương án tối ưu, bảo đảm tính cần thiết và hiệu quả đầu tư.
Thứ trưởng cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan tập trung làm rõ những vấn đề do tư vấn Viện 4 kiến nghị như: ảnh hưởng của đất quốc phòng, an ninh đến phương án tuyến và ga; tác động của nhiễu điện từ trường từ tuyến đường sắt điện khí hóa tới các sân bay như Kép, Vân Đồn, Cát Bi; quy hoạch địa phương và quỹ đất dự phòng dọc tuyến; kết nối cửa khẩu đường sắt Trung – Việt; cũng như ảnh hưởng đến vận hành khi tuyến đường sắt bố trí gần đường bộ cao tốc.
Đối với các địa phương, Thứ trưởng nhấn mạnh cần xác định rõ vai trò của tuyến đường sắt trong phát triển kinh tế - xã hội, coi đây là động lực mới cho các khu vực tuyến đi qua. Trên cơ sở đó, các địa phương cần ưu tiên bố trí quỹ đất và nguồn lực đầu tư. Trường hợp không bảo đảm hiệu quả hoặc không thể bố trí quỹ đất, cần có ý kiến cụ thể để làm căn cứ quyết định đầu tư và lộ trình triển khai.
Đối với đơn vị tư vấn, Thứ trưởng yêu cầu nghiên cứu kỹ dự báo nhu cầu vận tải và sự phân bổ giữa các phương thức, đặc biệt trên hành lang ven biển tuyến Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng, nơi có nhiều loại hình vận tải cạnh tranh như đường bộ cao tốc với ưu thế “door to door”, đường thủy và đường ven biển có chi phí thấp.
Thứ trưởng Nguyễn Danh Huy nhấn mạnh, việc dự báo chính xác nhu cầu vận tải, xác định thời điểm đầu tư và lựa chọn quy mô (đường đơn hay đường đôi) phải được làm rõ ngay từ giai đoạn quy hoạch, nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí tài nguyên đất và nguồn lực.
Đồng bộ quy hoạch, tăng cường kết nối với các phương thức vận tải khác
Báo cáo kết quả nghiên cứu, đại diện Viện Khảo sát Thiết kế số 4 đường sắt Trung Quốc (Viện 4) cho biết, quy hoạch hai tuyến được nghiên cứu theo hai giai đoạn: ngắn hạn đến năm 2040 và dài hạn đến năm 2050.
Đối với tuyến Đồng Đăng - Hà Nội, tại đoạn có lưu lượng lớn nhất của hành lang, dự báo mật độ luồng hàng theo chiều tàu nặng trong giai đoạn ngắn hạn và dài hạn lần lượt đạt 4,36 triệu tấn và 5,45 triệu tấn; số đôi tàu khách tương ứng là 10 đôi và 15 đôi/ngày.
Trên cơ sở phân tích, so sánh các phương án, tư vấn đề xuất tuyến Đồng Đăng – Hà Nội có chiều dài chính tuyến 145,15km trên lãnh thổ Việt Nam. Điểm đầu tại khu vực kiểm soát biên phòng ga Nam Đồng Đăng (biên giới Việt – Trung), điểm cuối tại ga Gia Lâm (Hà Nội). Nếu tính cả đoạn kết nối với phía Trung Quốc, tổng chiều dài toàn dự án là 166,206km.
Tuyến đi dọc hành lang đường sắt hiện hữu, với 11 nhà ga. Trên địa bàn Lạng Sơn bố trí các ga: Nam Đồng Đăng, Tây Lạng Sơn, Bắc Bắc Thủy, Nam Đồng Mỏ, Đông Bắc Lệ; sau đó kết nối vào ga Kép (Bắc Giang), rồi tách tuyến về phía Tây Nam qua các ga Bắc Bắc Giang, Sen Hồ, Tây Bắc Ninh trước khi về ga Gia Lâm.
Các tiêu chuẩn kỹ thuật chủ yếu gồm: khổ đường 1.435mm; đường sắt cấp I, khai thác chung tàu khách và hàng hóa; tốc độ thiết kế 160km/h (đoạn qua biên giới 80km/h); đường đơn, dự phòng đường đôi.
Đối với tuyến Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng, tại đoạn có lưu lượng lớn nhất, dự báo mật độ luồng hàng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn lần lượt là 0,72 triệu tấn và 1,02 triệu tấn. Số đôi tàu khách trong mùa cao điểm đạt 13 đôi và 20 đôi, mùa thấp điểm là 10 đôi và 17 đôi/ngày.
Tuyến có chiều dài chính tuyến 174,916km (trong lãnh thổ Việt Nam), với tổng chiều dài cầu 76,8km, hầm 8,086km, tỷ lệ cầu - hầm chiếm 48,53%; bố trí 14 ga. Điểm đầu kết nối với tuyến Phòng Thành Cảng - Đông Hưng (Trung Quốc) tại khu vực biên giới, điểm cuối tại ga Nam Hải Phòng.
Các tiêu chuẩn kỹ thuật chính tương tự tuyến Đồng Đăng - Hà Nội: khổ đường 1.435mm; cấp I; khai thác hỗn hợp; tốc độ thiết kế 160km/h, dự phòng nâng lên 200km/h (đoạn qua biên giới 120km/h); đường đơn, dự phòng đường đôi.
Theo đơn vị tư vấn, đây mới là kết quả nghiên cứu ban đầu, cần tiếp tục bổ sung số liệu, cập nhật thông tin từ các bộ, ngành và địa phương để hoàn thiện.
Đóng góp ý kiến tại cuộc họp, đại diện các bộ, ngành, địa phương đề nghị rà soát phân bổ thị phần giữa các phương thức vận tải để nâng cao độ chính xác dự báo; cập nhật các quy hoạch quốc gia, quy hoạch ngành và địa phương; bổ sung các tuyến nhánh kết nối cảng biển, trung tâm logistics; đồng thời rà soát tiêu chuẩn kỹ thuật để bảo đảm khả năng kết nối, khai thác thông tuyến hiệu quả.

Cục trưởng Cục Đường sắt VN Trần Thiện Cảnh và đại diện các tỉnh/thành phố, các bộ, ngành đóng góp ý kiến vào báo cáo, nhằm đưa ra được phương án tối ưu về hướng tuyến - ga, tiêu chuẩn kĩ thuật, lộ trình đầu tư...
Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam Trần Thiện Cảnh cùng đại diện các địa phương, đơn vị liên quan cũng tham gia góp ý nhằm hoàn thiện phương án hướng tuyến, vị trí ga, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình đầu tư.
Đáng chú ý, ông Trần Thiện Cảnh đề nghị đơn vị tư vấn bảo đảm quy hoạch đồng bộ, tăng cường kết nối đường sắt với các phương thức vận tải khác, cũng như với các đầu mối hàng hóa, hành khách, trung tâm logistics, khu công nghiệp và cảng biển. Việc kết nối phải phù hợp với quy hoạch mạng lưới đường sắt, quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch địa phương.
Cùng đó, cần sớm hoàn thiện dự báo nhu cầu vận tải, xác định rõ hướng tuyến, vị trí ga để làm cơ sở lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương. Trên cơ sở đó, đề xuất thời điểm đầu tư và quy mô tuyến (đường đơn hay đường đôi), gắn với yêu cầu sử dụng quỹ đất.
Ông Trần Thiện Cảnh cũng lưu ý cần đánh giá kỹ tính cạnh tranh giữa các phương thức vận tải. Đối với vận tải hành khách, với cự ly khoảng 150 - 170km và tốc độ tàu khoảng 160km/h, đường bộ vẫn có lợi thế cạnh tranh lớn.
Do đó, cần xây dựng các kịch bản cụ thể, làm rõ cơ cấu hành khách nội địa và liên vận quốc tế để xác định số đôi tàu phù hợp cho từng giai đoạn.

Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận