Báo Xây dựng trao đổi với đại sứ Đoàn Xuân Hưng, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao xung quanh vấn đề này.

Đại sứ Đoàn Xuân Hưng, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.
"Mở lối" ra thế giới
Theo ông, công tác ngoại giao kinh tế và ngoại giao khoa học - công nghệ của Việt Nam có gì khác so với giai đoạn trước?
Trước đây, để khẳng định vai trò ngoại giao kinh tế thực sự không dễ bởi nhiều người còn e dè. Bằng nhiều cách khác nhau, chúng tôi phải thuyết phục về ý nghĩa, đó là hướng đến mở rộng quan hệ với các đối tác, xây dựng tin cậy chính trị, tìm kiếm thị trường, công nghệ để mở đường cho kinh tế, đầu tư trúng đích hơn, hiệu quả hơn.
Việc ký kết các thỏa thuận thiết lập, xây dựng quan hệ Đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện, nhất là ở cấp cao nhất là cam kết chính trị rất mạnh.
Mỗi nước có thế mạnh riêng nên mức độ hợp tác ở từng lĩnh vực sẽ khác nhau. Nhưng quan trọng nhất là khi đã có văn kiện chính trị, cam kết chính trị, thì về nguyên tắc, hai bên có thể hợp tác trên hầu hết mọi lĩnh vực, thậm chí có những đối tác còn nhấn mạnh hợp tác không giới hạn.
Nguyên Thứ trưởng Đoàn Xuân Hưng
Đến thời điểm năm 2007, Bộ Ngoại giao đã đưa khái niệm "ngoại giao kinh tế" vào văn bản chính thức.
Năm 2010, tư duy này được nâng tầm lên Chỉ thị 41 của Ban Bí thư và ngoại giao kinh tế mới thực sự được nhìn nhận đúng vị trí, vai trò; có đánh giá bài bản về những gì đã làm được, chưa làm được và đề ra các nguyên tắc để tiếp tục thúc đẩy.
Đến nay, công tác ngoại giao kinh tế được đánh giá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần "dẫn lối, mở đường", thu hút các nguồn lực, tạo cơ hội, mở ra không gian phát triển mới để đưa nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Ngoại giao có vai trò gì trong việc mở đường tiếp cận công nghệ lõi, trong bối cảnh các nước ngày càng siết chặt kiểm soát công nghệ, thưa ông?
Cần nói thẳng, không ai cho không ai cái gì, nhất là trong khoa học công nghệ. Bởi các nước, doanh nghiệp, tập đoàn quốc tế đầu tư rất lớn cho nghiên cứu, mất nhiều năm mới có được thành quả. Vì vậy, khi cần thì mình phải mua và phải có trao đổi lợi ích.
Việc chúng ta xây dựng các quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện, đặc biệt với những đối tác hàng đầu thế giới, sẽ tạo được lòng tin để họ có thể chia sẻ một số công nghệ. Nếu không có niềm tin, không có chia sẻ lợi ích, thì rất khó.
Vai trò của ngoại giao là ở chỗ tham mưu rõ: Đâu là đối tác chiến lược, đâu là đối tác chiến lược toàn diện, ở đâu có thế mạnh gì.
Với mạng lưới gần 100 cơ quan đại diện ở nước ngoài, ngành ngoại giao cần nắm rõ thông tin - từ công nghệ, doanh nghiệp đến các xu hướng, cơ hội hợp tác; tham mưu đề xuất cần hợp tác lĩnh vực gì, với ai, và làm thế nào để thu hút họ.
Từ đó, tạo dựng điều kiện phù hợp từ thể chế, cơ sở hạ tầng đến đất đai, môi trường đầu tư theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi.
Cụ thể hóa các cam kết
Theo ông, làm thế nào để chuyển cam kết ngoại giao thành dự án cụ thể, dòng vốn thực và năng lực công nghệ thực?
Sau cam kết, vấn đề then chốt là cần cụ thể hóa thành các dự án, chương trình hành động rõ ràng. Không thể dừng lại ở những tuyên bố chung chung rồi để đó.

Các đại biểu thực hiện nghi thức khai trương Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển và Trung tâm Xuất sắc về Trí tuệ nhân tạo năm 2025. Ảnh: VGP/Minh Ngọc.
Nhiều đối tác cũng đặt vấn đề rất rõ: Phải có nhóm làm việc chung, xây dựng chương trình hành động trung hạn, dài hạn, xác định cụ thể từng lĩnh vực hợp tác, dự án đầu tư, đối tác tham gia và cơ chế triển khai. Đây mới là khâu quyết định để hiện thực hóa các cam kết.
Thực tế, chúng ta đã làm và ngày càng tốt hơn. Nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn nhiều việc chưa làm hết. Có khi đã ký rất nhiều thỏa thuận, nhưng việc triển khai chưa tương xứng.
Tôi từng đề xuất phải thường xuyên rà soát, tổng kết việc triển khai các cam kết đã ký với các nước, đánh giá việc thực hiện đến đâu, cái gì đã làm tốt, cái gì chưa, vướng ở đâu, đơn vị nào, cá nhân nào chịu trách nhiệm chính?
Có lẽ, cần một cơ chế mang tính ràng buộc cao yêu cầu các bộ, ngành báo cáo cụ thể lĩnh vực mình phụ trách. Cần sự phân công rõ trách nhiệm, đôn đốc, kiểm tra và tháo gỡ vướng mắc kịp thời.
Tiếp cận có chọn lọc
Theo ông, Việt Nam cần chuẩn bị gì về thể chế, nhân lực, hạ tầng để đón làn sóng đầu tư công nghệ cao?
Công tác chuẩn bị từ hạ tầng, nguồn lực, nhân lực và tài chính, đất đai… rất quan trọng bởi nếu không, dù có được chuyển giao ngay công nghệ tốt nhất, chúng ta chưa chắc tiếp thu được.
Việc coi trọng và dành đầu tư lớn cho phát triển khoa học công nghệ trong nước là chủ trương rất đúng.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, nhất là các đối tác chủ chốt. Chúng ta mong muốn đi vào công nghệ tiên tiến nhất, nhưng đồng thời cũng cần tiếp cận theo hướng chọn lọc, phù hợp với điều kiện trong nước và phải đi từng bước. Thực tế có những công nghệ hiện đại đến mức chúng ta chưa thể tiếp thu ngay, phải tiếp cận từng phần.
Yếu tố con người cũng rất quan trọng. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cá nhân, doanh nghiệp, nhất là về tài chính, ưu đãi để khuyến khích hoạt động đổi mới, sáng tạo.
Một nguồn lực khác mà chúng ta nên tiếp cận là trí tuệ của 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài. Trong số đó, có rất nhiều chuyên gia về AI, bán dẫn, công nghệ thông tin được đào tạo bài bản, chuyên sâu, va chạm thực tiễn.
Cảm ơn ông!
Từng bước kiến tạo liên kết chiến lược
Chia sẻ với báo chí đầu năm 2026, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng cho biết, trong năm 2025, nội hàm kinh tế, khoa học công nghệ trở thành trọng tâm của hoạt động đối ngoại, đặc biệt đối ngoại cấp cao, từng bước kiến tạo liên kết chiến lược trong những ngành công nghệ tương lai.
Năm 2026, trong 5 ưu tiên về ngoại giao kinh tế, Bộ Ngoại giao xác định sẽ thúc đẩy động lực tăng trưởng mới, trong đó ngoại giao khoa học công nghệ, ngoại giao bán dẫn, ngoại giao kinh tế số là động lực trung tâm, là đột phá của ngoại giao kinh tế thời đại mới.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận