Theo đại sứ Ngô Quang Xuân, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, dù không thành công ngay từ lần đầu, nhưng bước đi ấy đã góp phần từng bước định hình vị thế quốc gia.

Đại sứ Ngô Quang Xuân.
Rút ra bài học từ thất bại
Việt Nam đầu những năm 1990 đã tự làm mới mình, thay đổi tư duy về ngoại giao đa phương tại các diễn đàn quốc tế. Điều gì dẫn đến những thay đổi này, thưa ông?
Tôi đảm nhiệm cương vị đại sứ, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc giai đoạn 1993 - 1999.
Đầu những năm 1990, do vẫn đang trong quá trình thoát khỏi bao vây, cấm vận nên điều kiện để chủ động tham gia sâu vào các cơ chế đa phương của chúng ta còn hạn chế.
Hiện nay, ngoại giao đa phương đang đứng trước những thách thức mới, phức tạp và khó lường. Quan hệ giữa các quốc gia, cũng như tình hình khu vực và quốc tế biến động mạnh, với nhiều xung đột, chiến tranh diễn ra ở nhiều nơi.
Tuy nhiên, Việt Nam có nền tảng quan trọng khi xây dựng được quan hệ tốt với nhiều quốc gia, trong đó có các cường quốc và đặc biệt là 5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an nên có dư địa để triển khai hiệu quả các hoạt động đối ngoại.
Bên cạnh đó, vai trò của Việt Nam trong ASEAN tiếp tục được củng cố, tạo thêm nền tảng để phát huy vị thế ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu.
Đại sứ Ngô Quang Xuân
Để thực sự vượt qua rào cản, thế hệ các nhà ngoại giao thời kỳ này nhận thức rõ yêu cầu cấp thiết phải thay đổi tư duy và phương thức hoạt động.
Tôi và các đồng nghiệp bắt đầu chủ động tìm hiểu, vận động nhằm đưa Việt Nam tham gia vào các vị trí trong bộ máy và các cơ chế lãnh đạo của Liên hợp quốc cũng như các tổ chức quốc tế.
Theo ông, đâu là mục tiêu đầu tiên, mang tính đột phá?
Chúng tôi đã phân tích và xác định mục tiêu đầu tiên là mạnh dạn tham gia vào vị trí lãnh đạo của Đại hội đồng Liên hợp quốc.
Hệ thống Liên hợp quốc có 6 cơ quan chính, trong đó Đại hội đồng là cơ quan có vai trò quyết định các vấn đề lớn; Hội đồng Bảo an phụ trách duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; Hội đồng Kinh tế - Xã hội (ECOSOC) phụ trách các vấn đề kinh tế - xã hội…
Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với năng lực, trước mắt tập trung vận động tham gia ECOSOC, tiếp theo là hướng tới các mục tiêu cao hơn như vị trí Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc và xa hơn là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an.
Ba hướng đi này đã được báo cáo trong nước và nhận được sự đồng ý, từ đó hình thành chương trình hành động cụ thể để triển khai.
Đây là lĩnh vực hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ với Việt Nam, nên giai đoạn đầu phải vừa học vừa mò mẫm làm.
Chúng tôi vận động trên cả hai kênh: Trực tiếp tại Liên hợp quốc và thông qua hệ thống đại sứ quán ở các nước, nhằm tranh thủ sự ủng hộ. Nguyên tắc ủng hộ lẫn nhau tại Liên hợp quốc được vận dụng linh hoạt.
Tuy nhiên, ở lần ứng cử đầu tiên vào ECOSOC năm 1996, chúng tôi nhận về thất bại xót xa. Việt Nam chỉ thiếu một số phiếu rất nhỏ.
Khéo léo "xếp gạch"
Thất bại này để lại bài học gì cho ngoại giao đa phương của Việt Nam, thưa ông?
Chính từ thất bại này, chúng tôi đã rút ra nhiều bài học, từ phương thức vận động đến tương quan lực lượng giữa các ứng cử viên, trong bối cảnh số lượng ghế hạn chế và cạnh tranh theo khu vực rất khắt khe.
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiếp tục chuẩn bị cho kỳ họp tiếp theo. Chỉ 1 năm sau, tại Khóa 52 Đại hội đồng Liên hợp quốc (năm 1997), Việt Nam đã trúng cử ECOSOC với số phiếu cao ngay từ vòng đầu, không phải bầu lại.
Từ thắng lợi này, chúng tôi triển khai phương án tiếp theo là ứng cử vị trí Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc.
Thông qua quá trình vận động, Việt Nam đã nhận được ủng hộ của nhóm châu Á và trở thành ứng cử viên duy nhất. Trên cơ sở đó, Đại hội đồng đã thông qua, đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam đảm nhiệm cương vị này.
Những kết quả đó đã tạo động lực mạnh mẽ, củng cố quyết tâm tham gia sâu rộng hơn vào các diễn đàn và tổ chức quốc tế khác như: Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)… và đặc biệt là bước ngoặt tham gia Hội đồng Bảo an.
Vậy, quá trình vận động tham gia Hội đồng Bảo an có gặp khó khăn gì không?
Hội đồng Bảo an có 15 thành viên, trong đó 5 nước là thành viên thường trực gồm: Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Pháp và Vương quốc Anh. 10 ghế còn lại là ủy viên không thường trực, được phân bổ theo khu vực và bầu với nhiệm kỳ hai năm. Đây là những vị trí có mức độ cạnh tranh rất cao.
Từ kinh nghiệm vận động, chúng tôi xác định nguyên tắc quan trọng: Phải trở thành ứng cử viên duy nhất của nhóm châu Á. Khi đạt được đồng thuận này, khả năng trúng cử sẽ rất cao.
Tuy nhiên, đó là cả quá trình dài và gian nan. Khi rà soát danh sách đăng ký, chúng tôi nhận thấy lịch ứng cử đã dày đặc, phải chờ khoảng 10 năm mới đến lượt. Nhưng nếu không chuẩn bị sớm, thời gian chờ đợi chắc sẽ còn dài hơn.
Do đó, từ năm 1997, chúng tôi bắt đầu "xếp gạch", từng bước chuẩn bị, vận động, tạo dựng sự ủng hộ cho mục tiêu dài hạn này.
Trong 10 năm đó, chúng ta phải chuẩn bị những gì, thưa ông?
Quá trình "xếp gạch" bao gồm nhiều hoạt động bền bỉ. Trước hết, tranh thủ uy tín từ các kết quả đã đạt được như trúng cử ECOSOC và Phó Chủ tịch Đại hội đồng, chúng ta tạo dựng hình ảnh một Việt Nam tích cực, có trách nhiệm.
Đồng thời, chủ động tiếp xúc với các nước trong khu vực châu Á, đặc biệt là những nước có ý định ứng cử cùng thời điểm, để thuyết phục họ ủng hộ Việt Nam.
Sau nhiều năm kiên trì, đến cuối năm 1998, đầu năm 1999 - năm cuối cùng của tôi tại Phái đoàn ở Liên hợp quốc, nhóm châu Á đã thống nhất ủng hộ Việt Nam là ứng cử viên duy nhất cho nhiệm kỳ sau đó.
Kiên trì "giữ gạch"
Theo ông, để trở thành ứng cử viên duy nhất của khu vực, yếu tố nào mang tính quyết định?
Dù đã được nhóm châu Á thông qua là ứng cử viên duy nhất, Việt Nam vẫn phải giành được sự ủng hộ của toàn bộ cộng đồng quốc tế tại Liên hợp quốc. Với 193 quốc gia thành viên, đồng nghĩa phải thuyết phục gần như toàn bộ thế giới.

Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan và Đại sứ Ngô Quang Xuân tại trụ sở Liên hợp quốc tháng 11/1999. (Ảnh: NVCC).
Các nước sẽ đánh giá một ứng cử viên dựa trên nhiều yếu tố: Hiệu quả hoạt động, mức độ đóng góp vào các vấn đề chung, lập trường rõ ràng trước các vấn đề quốc tế, khả năng tham gia giải quyết các thách thức về hòa bình, an ninh và xung đột.
Vì vậy, trong suốt quá trình ứng cử, Việt Nam không chỉ vận động mà còn phải thể hiện thông qua hành động cụ thể.
Kết quả thể hiện rất rõ qua lá phiếu: Nếu nhiệm kỳ 2008-2009, chúng ta đã trúng cử với số phiếu cao, thì đến lần ứng cử cho nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam nhận được tới 192/193 phiếu ủng hộ, mức gần như tuyệt đối.
Vậy, đâu là "vũ khí mềm" quan trọng nhất của ngoại giao đa phương Việt Nam thời điểm đó, thưa ông?
Công tác vận động không chỉ diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc mà là nỗ lực của cả hệ thống.
Quá trình này đòi hỏi bền bỉ và thận trọng cao độ, không chỉ "xếp gạch", mà còn phải "giữ gạch", tức là duy trì sự ủng hộ đã đạt được, tránh những biến động có thể làm thay đổi cục diện.
Cảm ơn ông!
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận