Nhận bản tin miễn phí
Báo Xây dựng - Tin tức trong ngày, tin mới nhất, tin nhanh 24h Quản lý đô thị

Quản lý cấp nước sạch: Bài toán tại đô thị mới và ven đô

Quản lý cấp nước sạch: Bài toán tại đô thị mới và ven đô

-

Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu sử dụng nước sạch tại các khu đô thị mới và vùng ven đô ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về đầu tư, quản lý vận hành hạ tầng cấp nước.

Nghệ An: Vướng mắc từ cơ chế đến thực thi

Thực tế tại Nghệ An, việc cung cấp nước cho các dự án mới và dân cư ở đô thị vùng ven là vấn đề khá nan giải. Như ở khu vực TP Vinh (cũ), từng xảy ra trường hợp người dân không được cấp nước sạch dù đã nộp hồ sơ, làm đầy đủ các thủ tục theo quy định.

Quản lý cấp nước sạch: Bài toán tại đô thị mới và ven đô- Ảnh 1.

Tăng cường đầu tư, hoàn thiện mạng lưới cấp nước liên vùng là giải pháp then chốt bảo đảm an sinh tại các khu vực ven đô.

Năm 2024, chị Lê Thị H (phường Trường Vinh) mua mảnh đất ở đường Võ Thúc Đồng để xây dựng nhà ở. Tuy nhiên, sau khi nộp hồ sơ, chị H nhiều lần liên lạc với công ty cấp nước, mãi chưa được cấp nước sạch.

"Lúc đó, tôi xây nhà vào mùa hè. Nhà máy nước lấy lý do bị quá tải, chưa lắp đường nước cho nhà tôi, buộc gia đình phải khoan giếng để lấy nước xây dựng. Đến mùa đông, tôi lên hỏi thì họ nói hồ sơ chưa đến lượt, phải 6 tháng sau mới được cấp nước sạch", chị H kể lại.

Ông Nguyễn Đức Hoàng, Phòng Quản lý kết cấu hạ tầng, Sở Xây dựng Nghệ An cho biết: Thực tế xảy ra nhiều câu chuyện mà cơ quan quản lý Nhà nước không can thiệp được. Như cách đây 1 năm, ở thị xã Hoàng Mai (cũ), mặc dù có hệ thống cấp nước sạch tập trung, nhưng nhà máy không xây dựng tuyến ống cấp nước vào một số vùng dân cư. Khi người dân, doanh nghiệp ở vùng đó có nhu cầu thì nhà máy nước đưa ra nhiều lý do để từ chối cung cấp.

Hay như cách đây 2 năm, chủ đầu tư dự án khu đô thị Handico ở đường Nguyễn Viết Xuân, (phường Hưng Dũng) xin đấu nối đường ống để cấp nước vào khu đô thị cũng bị từ chối. Lý do đơn vị cấp nước đưa ra là đường ống nước trong đô thị không phải của họ, họ không kiểm soát được chất lượng, lo sợ hao hụt nước… Phải mất đến hơn 1 năm, Sở Xây dựng phát không biết bao nhiêu văn bản, nước mới được cấp về.

Theo thống kê của Sở Xây dựng Nghệ An, trên địa bàn tỉnh hiện có 8 đơn vị cấp nước đô thị, hầu hết đã thực hiện cổ phần hóa và thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tư nhân. Quá trình cổ phần hoá, hệ thống đường ống, hạ tầng cấp nước được chuyển toàn bộ cho doanh nghiệp.

Theo ông Hoàng, sau cổ phần hoá, công ty cấp nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, họ có quyền chi phối mọi hoạt động. Nước là sản phẩm thiết yếu, thiếu nước mọi thứ sẽ đảo lộn. Nhưng về mặt quản lý Nhà nước, chúng ta đang thiếu nhiều công cụ. Các quy định chưa sâu, chưa mạnh, chưa ràng buộc trách nhiệm với doanh nghiệp cấp nước".

"Ràng buộc duy nhất hiện nay là thỏa thuận cấp nước giữa chính quyền và doanh nghiệp cấp nước. Đã là thỏa thuận thì không phải văn bản quy phạm pháp luật, nên khi xảy ra vấn đề, cơ quan quản lý tại địa phương không thể xử lý được. Lâu nay, chúng tôi chủ yếu giải quyết thông qua việc phát văn bản đề nghị, mang tính kêu gọi nhiều hơn là chỉ đạo", ông Hoàng nói.

Phú Thọ: Thách thức từ quy hoạch đến tổ chức vận hành

Sau khi hợp nhất với Vĩnh Phúc và Hòa Bình, hệ thống cấp nước của tỉnh Phú Thọ được hình thành từ ba khu vực với mức độ phát triển khác nhau, chưa được tích hợp đồng bộ, dẫn đến bất cập trong tổ chức đầu tư, quản lý và khai thác.

Ông Hà Xuân Tưởng, Trưởng phòng Phát triển đô thị, Sở Xây dựng Phú Thọ cho biết: Ở khu vực đô thị và công nghiệp, đặc biệt là vùng Vĩnh Phúc (cũ), đã hình thành hệ thống cấp nước tương đối phát triển với khoảng 45 nhà máy nước, tổng công suất thiết kế hơn 164.600m³/ngày đêm, cơ bản đáp ứng nhu cầu tại các đô thị trung tâm và một số khu công nghiệp.

Tuy nhiên, tỷ lệ đấu nối sử dụng nước sạch tại nhiều khu vực còn thấp, thậm chí một số doanh nghiệp trong cụm công nghiệp chưa sử dụng nguồn nước tập trung.

Quản lý cấp nước sạch: Bài toán tại đô thị mới và ven đô- Ảnh 2.

Nước sạch không chỉ phục vụ sinh hoạt hằng ngày mà còn là yếu tố thiết yếu bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân. Ảnh: Danh Lam.

Ở khu vực nông thôn, tổng công suất cấp nước khoảng 27.600m³/ngày đêm, nhưng khai thác thực tế chỉ đạt khoảng 69%. Người dân vẫn chủ yếu sử dụng nước giếng đào, giếng khoan, nước mưa hoặc nước suối. Tỷ lệ thất thoát nước ở mức cao, khoảng 24%, cho thấy hiệu quả vận hành chưa tương xứng với đầu tư.

Về nguồn nước, ông Tưởng cho biết, Phú Thọ có lợi thế lớn với các hệ thống sông Hồng, sông Lô, sông Đà và nhiều hồ chứa lớn. Tuy nhiên, cơ cấu nguồn nước chưa bền vững, phụ thuộc nhiều vào nguồn nước ngầm nhỏ lẻ, việc khai thác nước mặt quy mô lớn chưa phát huy hiệu quả. Nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và tác động của biến đổi khí hậu cũng đặt ra nhiều thách thức.

Những khó khăn chủ yếu của địa phương hiện nay là quy hoạch cấp nước chưa được tích hợp sau sáp nhập, thiếu các công trình cấp nước quy mô vùng, đầu tư còn dàn trải, mô hình quản lý đa dạng và thiếu thống nhất.

Bên cạnh đó, cơ chế xã hội hóa chưa đủ hấp dẫn khiến việc thu hút đầu tư gặp khó khăn, đặc biệt ở khu vực miền núi, nơi chi phí đầu tư cao nhưng hiệu quả tài chính thấp.

Tái cấu trúc hạ tầng, nguồn nước ở ĐBSCL

Theo Sở Xây dựng Cần Thơ, hiện thành phố Cần Thơ có 12 đơn vị cấp nước với tổng công suất thiết kế gần 932.000m³/ngày đêm, nhưng công suất khai thác thực tế chỉ hơn 50%. Điều này cho thấy dư địa hệ thống còn lớn, song việc phân bổ, kết nối mạng lưới chưa đồng bộ.

Ở các khu đô thị mới và vùng ven, tình trạng "có nhà máy nhưng thiếu đường ống" vẫn diễn ra. Nhiều khu dân cư phải sử dụng nguồn nước cục bộ hoặc phụ thuộc nước ngầm.

Tỷ lệ thất thoát nước dao động từ 11–17% ở khu vực Cần Thơ (cũ), khoảng 20% tại Hậu Giang và có nơi vượt 28%.

Ông Nguyễn Đăng Khoa, Phó giám đốc Sở Xây dựng Cần Thơ cho biết, sau khi mở rộng địa giới hành chính, áp lực cấp nước tăng mạnh do dân số hơn 3,2 triệu người và địa bàn rộng hơn 6.300km². Bên cạnh đó, cơ chế đầu tư, phân cấp quản lý còn chồng chéo khiến việc triển khai các dự án hạ tầng cấp nước chưa đạt kỳ vọng.

Thực tế tại các vùng ven, đặc biệt khu vực chịu ảnh hưởng mặn, người dân vẫn phải trữ nước hoặc sử dụng nước ngầm.

Quản lý cấp nước sạch: Bài toán tại đô thị mới và ven đô- Ảnh 3.

Người dân ở vùng ven biển Cần Thơ nhận nước ngọt miễn phí.

Ở góc độ quản lý địa phương, ông Văn Hữu Huệ, Phó giám đốc Sở NN&MT Vĩnh Long cho biết, hệ thống thủy lợi và cấp nước hiện chưa đáp ứng yêu cầu trữ nước và điều tiết trong điều kiện hạn, mặn gia tăng. Việc khai thác nước ngầm kéo dài gây sụt lún nền đất, ảnh hưởng đến hạ tầng và phát triển lâu dài.

Thực tế cho thấy, cấp nước tại ĐBSCL không còn là câu chuyện riêng từng địa phương mà đòi hỏi cách tiếp cận liên vùng, liên ngành. Từ hạ tầng, nguồn nước đến mô hình sản xuất đều cần được tái cấu trúc đồng bộ.

Cần Thơ dự kiến bố trí khoảng 6.500 tỷ đồng đầu tư hạ tầng nước sạch giai đoạn 2026–2030, tập trung mở rộng mạng lưới, giảm thất thoát và phát triển cấp nước nông thôn.

Về dài hạn, định hướng quan trọng là giảm dần khai thác nước ngầm, chuyển sang sử dụng nước mặt và hệ thống cấp nước liên vùng. Các dự án như trạm bơm nước thô Cái Bè hay đề xuất hệ thống dẫn nước vùng Tây Nam sông Hậu được kỳ vọng đảm bảo nguồn nước cho hàng triệu người dân, đặc biệt khu vực ven biển.

Tháo gỡ vướng mắc, phát triển hạ tầng cấp nước

Theo ông Trần Hoài Anh, Phó cục trưởng Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng (Bộ Xây dựng), hiện hệ thống cấp nước sạch tại Việt Nam, đặc biệt ở khu vực đô thị và ven đô, đã có bước phát triển đáng kể cả về quy mô và chất lượng dịch vụ.

Cụ thể, khu vực đô thị trên cả nước có hơn 250 doanh nghiệp cấp nước, đang vận hành trên 1.000 nhà máy nước, với tổng công suất khoảng 13,2 triệu m³/ngày đêm. Tỷ lệ dân cư đô thị được cung cấp nước sạch đạt khoảng 95%, tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch giảm còn 15%.

Đối với khu vực nông thôn, đa số công trình cấp nước sạch tập trung có quy mô nhỏ và công trình cấp nước quy mô hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn; tỷ lệ sử dụng nước sạch còn hạn chế, đạt gần 54%.

Nhiều địa phương đã chủ động triển khai kế hoạch cấp nước an toàn, thành lập Ban Chỉ đạo cấp nước an toàn cấp tỉnh và từng bước nâng cao năng lực quản lý. Cộng đồng đã có ý thức sử dụng nước tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước.

Quản lý cấp nước sạch: Bài toán tại đô thị mới và ven đô- Ảnh 4.

Trước khi bắt đầu mùa khô, người dân ở xã Biển Bạch (tỉnh Cà Mau) đã dùng lu tích trữ nước ngọt để sử dụng dần. Ảnh: Thanh Mong.

Tuy nhiên, ông Trần Hoài Anh cũng chỉ ra 4 tồn tại, vướng mắc cần tháo gỡ. Thứ nhất, vấn đề an ninh nguồn nước. Trong bối cảnh tác động biến đổi khí hậu, đô thị hóa nhanh, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, mức sống ngày càng cao; nguồn nước đang chịu tác động ô nhiễm, xâm nhập mặn, hạn hán, ngập úng ảnh hưởng trực tiếp đến hạ tầng cấp nước.

Thứ hai, hệ thống cấp nước phát triển chưa đồng bộ, thiếu tính liên kết vùng; quy hoạch cấp nước còn tách biệt giữa đô thị và nông thôn, thiếu hệ thống cấp nước quy mô lớn liên vùng. Điều này dẫn đến phát triển manh mún, nhỏ lẻ ở khu vực ven đô và nông thôn, khó bảo đảm hiệu quả đầu tư và chất lượng dịch vụ.

Thứ ba, khó khăn về nguồn lực đầu tư và cơ chế tài chính. Cấp nước là lĩnh vực hạ tầng thiết yếu nhưng đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi dài; trong khi đó cơ chế giá nước, huy động xã hội hóa ở một số nơi chưa thực sự hấp dẫn. Ở khu vực nông thôn, dân cư phân tán làm tăng chi phí đầu tư, vận hành, dẫn đến nhiều công trình hoạt động kém hiệu quả hoặc không bền vững.

Thứ tư, hạn chế về công nghệ và quản lý vận hành, thể hiện qua tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch nhiều đô thị ở mức trên 15%, đặc biệt khu vực nông thôn rất cao từ 20% đến trên 30%; việc ứng dụng chuyển đổi số, quản lý thông minh, giám sát chất lượng nước theo thời gian thực chưa đồng đều giữa các địa phương.

Hoàn thiện pháp lý, tránh độc quyền hạ tầng cấp nước

Về lâu dài, tại địa phương, ông Nguyễn Đức Hoàng, Phòng Quản lý kết cấu hạ tầng, Sở Xây dựng Nghệ An kiến nghị Nhà nước sớm ban hành luật riêng về lĩnh vực cấp thoát nước. Đưa nước vào mặt hàng thiết yếu phục vụ sức khỏe người dân và đảm bảo an sinh xã hội.

"Hạ tầng cấp nước phải thuộc quản lý của Nhà nước giống như hạ tầng giao thông, hạ tầng lưới điện. Doanh nghiệp nào có nhu cầu thì thực hiện đấu thầu quyền khai thác. Cách làm này cũng là tránh độc quyền trong cung cấp nước, tạo sự chủ động trong quản lý, điều hành ở địa phương", ông Hoàng nói.

Phía Sở Xây dựng Phú Thọ cũng kiến nghị, hoàn thiện cơ chế giá nước theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí; có chính sách hỗ trợ đầu tư vùng nông thôn, miền núi và cơ chế chia sẻ rủi ro.

Đồng thời, cần tích hợp quy hoạch cấp nước toàn tỉnh, ưu tiên công trình quy mô lớn, cấp nước liên vùng; phân định rõ trách nhiệm quản lý giữa các cấp, tăng cường giám sát.

Quản lý cấp nước sạch: Bài toán tại đô thị mới và ven đô- Ảnh 5.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Cà Mau dẫn đường ống nước về vùng nông thôn trên địa bàn xã Biển Bạch.

Để tháo gỡ khó khăn, phát triển hạ tầng cấp nước đồng bộ, hiện đại, ông Trần Hoài Anh đề xuất, cần hoàn thiện thể chế, đặc biệt là Luật Cấp, Thoát nước; phát triển cấp nước có tính vùng, kết nối giữa đô thị và nông thôn, không phụ thuộc địa giới hành chính, hình thành hệ thống cấp nước quy mô lớn.

Bảo đảm an ninh nguồn nước, thông qua bảo vệ nguồn nước thô, kiểm soát khai thác nước dưới đất, tăng cường dự trữ, đa dạng hóa nguồn nước và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

"Đẩy mạnh đầu tư và hiện đại hóa hạ tầng cấp nước, giảm thất thoát, nâng cao hiệu quả vận hành; ứng dụng công nghệ số, tự động hóa trong quản lý mạng lưới và kiểm soát chất lượng dịch vụ", ông Hoài Anh nhấn mạnh và cho rằng:

Cần huy động đa dạng nguồn lực xã hội, hoàn thiện cơ chế giá, thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP), khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư, vận hành hệ thống cấp nước, đặc biệt tại khu vực ven đô và nông thôn.

Mục tiêu trong giai đoạn tới không chỉ là mở rộng tỷ lệ bao phủ, mà quan trọng hơn là bảo đảm mọi người dân được tiếp cận nguồn nước sạch an toàn, ổn định, với chất lượng dịch vụ ngày càng cao và phát triển theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Ông Trần Hoài Anh, Phó cục trưởng Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết: Thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ tập trung xây dựng và hoàn thiện Luật Cấp, thoát nước cùng các nghị định hướng dẫn, nhằm tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho lĩnh vực này. Việc hoàn thiện thể chế sẽ giúp phân rõ trách nhiệm, tháo gỡ khó khăn trong đầu tư và quản lý rủi ro, đồng thời thúc đẩy xã hội hóa và huy động nguồn lực tư nhân.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.