Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã ký Nghị định 378/2026/NĐ-CP ngày 1/10 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phát triển đô thị. Trong đó, Nghị định quy định chi tiết khoản 1 Điều 43 Luật Phát triển đô thị về tiêu chí công nhận xã, phường, đặc khu là khu kinh tế đặc biệt. Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định rõ về tiêu chí, điều kiện thành lập khu thương mại tự do.
Khu kinh tế đặc biệt phải có vị trí chiến lược, quy mô lớn
Theo Nghị định 378/2026/NĐ-CP, xã, phường, đặc khu được xem xét công nhận là khu kinh tế đặc biệt khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Phát triển đô thị.

Về quy mô, khu kinh tế đặc biệt phải có không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát; quy mô dân số từ 50.000 người trở lên và diện tích tự nhiên từ 500km2 trở lên. (Ảnh minh họa).
Trước hết, khu vực phải có vị trí chiến lược, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Tiêu chí này được xác định khi đồng thời đáp ứng các yêu cầu: thuộc tỉnh, thành phố được xác định là cực tăng trưởng, vùng động lực quốc gia tại Quy hoạch tổng thể quốc gia hoặc thuộc tỉnh, thành phố được xác định là cực tăng trưởng, khu vực động lực, trung tâm kinh tế của vùng tại quy hoạch vùng.
Đồng thời, khu vực phải được xác định là cực tăng trưởng, hạt nhân của vùng động lực, trung tâm kinh tế hoặc khu kinh tế ven biển của tỉnh, thành phố tại quy hoạch tỉnh, Quy hoạch tổng thể Thành phố; bảo đảm vị trí, vai trò trong thế trận quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo.
Một tiêu chí quan trọng khác là trên địa giới hành chính của xã, phường, đặc khu phải có cảng hàng không quốc tế hoặc cảng biển đặc biệt, cảng biển loại I theo danh mục phân loại cảng biển.
Về quy mô, khu kinh tế đặc biệt phải có không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát; quy mô dân số từ 50.000 người trở lên và diện tích tự nhiên từ 500km2 trở lên.
Nghị định cũng quy định cụ thể trường hợp đơn vị hành chính cấp xã được xác định có không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát. Theo đó, đơn vị này có thể là đặc khu hoặc xã đảo; có từ 50% chiều dài đường địa giới hành chính trở lên là đường bờ biển hoặc có từ 50% ranh giới tự nhiên phân tách với các đơn vị hành chính liền kề là sông, hồ hoặc rừng phòng hộ.
Trường hợp không đáp ứng các tiêu chí trên, địa phương phải xây dựng Đề án thuyết minh rõ việc đáp ứng yêu cầu về không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát và các nội dung liên quan, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, thống nhất về chủ trương.
Về trình tự công nhận, sau khi có ý kiến của cấp có thẩm quyền theo khoản 2 Điều 43 Luật Phát triển đô thị, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp thông qua Đề án công nhận khu kinh tế đặc biệt.
Trong thời hạn tối đa 7 ngày làm việc kể từ ngày HĐND cấp tỉnh ban hành Nghị quyết thông qua Đề án, UBND cấp tỉnh chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ gửi Bộ Tài chính thẩm định. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tổ chức thẩm định trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ.
Trường hợp cần thiết, Bộ Tài chính tổ chức khảo sát thực địa để phục vụ thẩm định. Các Bộ, cơ quan liên quan có trách nhiệm trả lời trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ xin ý kiến.
Sau khi nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định, UBND cấp tỉnh hoàn thiện hồ sơ Đề án và gửi Bộ Tài chính để trình Chính phủ.
Khu thương mại tự do quy mô tối thiểu 1.000ha
Nghị định 378/2026/NĐ-CP quy định khu thương mại tự do phải có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển thương mại quốc tế, logistics, sản xuất và dịch vụ. Khu vực này phải gắn liền hoặc kết nối giao thông trực tiếp với cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế, trung tâm tài chính quốc tế, cửa khẩu quốc tế quan trọng hoặc hạ tầng logistics chiến lược khác.

Bên cạnh yêu cầu về vị trí và quy mô, khu thương mại tự do phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả sử dụng đất... (Ảnh minh họa).
Khu thương mại tự do đồng thời phải có khả năng kết nối vận tải đa phương thức bằng ít nhất 2 phương thức trong số đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng hải và hàng không. Trường hợp công trình kết nối chưa hoàn thành, công trình phải thuộc quy hoạch, kế hoạch đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt và có tiến độ hoàn thành phù hợp với giai đoạn đưa khu vào hoạt động.
Quy mô khu thương mại tự do tối thiểu là 1.000ha. Trường hợp được tổ chức thành các khu vực không liền kề, các khu vực này phải bảo đảm khả năng kết nối hạ tầng, vận hành và quản lý thống nhất.
Bên cạnh yêu cầu về vị trí và quy mô, khu thương mại tự do phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả sử dụng đất; có tính bổ trợ, liên kết với khu kinh tế, khu công nghiệp, trung tâm logistics và các khu chức năng hiện có. Khu vực cũng phải có kết cấu hạ tầng và phương án tổ chức các khu chức năng phù hợp với định hướng phát triển; phương án quản lý, vận hành khả thi, cơ chế phối hợp liên ngành, một cửa liên thông và hệ thống quản lý dựa trên dữ liệu số.
Nghị định yêu cầu có phương án bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, an toàn tài chính, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu; phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp, rửa tiền và tội phạm công nghệ cao; đồng thời có phương án quản lý rủi ro và bảo vệ môi trường.
Về hạ tầng, khu thương mại tự do phải có hoặc có khả năng đầu tư đồng bộ hệ thống giao thông đối ngoại, giao thông nội bộ và kết nối đa phương thức; cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải và nước thải; viễn thông, công nghệ thông tin, trung tâm dữ liệu hoặc hạ tầng số.
Ngoài ra, phải có hệ thống kho bãi, cảng cạn và các công trình phục vụ xuất khẩu, nhập khẩu, trung chuyển hàng hóa; công trình phòng cháy, chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an toàn, an ninh và phục vụ kiểm tra, giám sát chuyên ngành.
Hạ tầng kỹ thuật được phân kỳ đầu tư phù hợp với tiến độ phát triển, đáp ứng yêu cầu dài hạn và khả năng kết nối với hệ thống hạ tầng của khu vực, quốc gia; khuyến khích đầu tư hạ tầng xanh, thông minh, phát thải thấp. Hệ thống quản lý, giám sát, điều hành được thực hiện trên nền tảng số, kết nối và chia sẻ dữ liệu với cơ quan quản lý chuyên ngành ở Trung ương và địa phương.
Căn cứ điều kiện phát triển, khu thương mại tự do có thể tổ chức thành một hoặc nhiều khu chức năng gồm khu logistics tích hợp, khu công nghiệp, khu thương mại - dịch vụ, khu nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo, khu công nghệ số tập trung, trung tâm dữ liệu, khu phi thuế quan và các khu chức năng khác theo quy định.
Về trình tự, UBND tỉnh, thành phố tổ chức lập Báo cáo đề xuất chủ trương thành lập khu thương mại tự do, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, cho chủ trương. Trên cơ sở đó, địa phương lập Đề án thành lập khu thương mại tự do.
Cơ quan quản lý nhà nước về khu thương mại tự do lấy ý kiến các Bộ Tài chính, Công Thương, Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Môi trường cùng các Bộ, cơ quan liên quan. Trong 15 ngày làm việc kể từ khi nhận Đề án, các Bộ, cơ quan gửi ý kiến tham gia.
Trong thời hạn 25 ngày kể từ khi nhận được ý kiến, cơ quan quản lý nhà nước về khu thương mại tự do có trách nhiệm giải trình, làm rõ, hoàn thiện Đề án và báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố xem xét, quyết định thành lập.
Trường hợp khu vực dự kiến thành lập có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh thì phải có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Trong 5 ngày làm việc kể từ ngày ban hành, Quyết định thành lập khu thương mại tự do được gửi Bộ Tài chính.
Nghị định cũng quy định Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố quyết định điều chỉnh tên gọi, mục tiêu, chức năng và các nội dung liên quan đến tổ chức, hoạt động của khu thương mại tự do sau khi có ý kiến của các Bộ, cơ quan có liên quan. Việc điều chỉnh ranh giới, mở rộng khu thương mại tự do thực hiện theo quy định của Nghị định.
Nghị định 378/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/10/2026.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận