Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư số 52/2026/TT-BXD Hướng dẫn về cảng hàng không và bãi cất, hạ cánh, có hiệu lực từ ngày 1/7.

Việc triển khai mô hình A-CDM tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài giúp tối ưu hóa hạ tầng, nguồn lực vận hành, giảm thời gian lăn của tàu bay, tiết kiệm nhiên liệu, giảm phát thải ra môi trường (ảnh: Phan Công).
Một trong những điểm đáng chú ý là Thông tư đã quy định cụ thể việc thiết lập, triển khai mô hình phối hợp ra quyết định khai thác tại cảng hàng không (A-CDM).
Theo Thông tư, nội dung quy trình A-CDM phải bảo đảm tối thiểu các thông tin về thuật ngữ, mốc thời gian khai thác và dữ liệu chuyến bay được sử dụng thống nhất giữa các cơ quan, đơn vị tham gia; các kịch bản khai thác phù hợp với yêu cầu, điều kiện khai thác của cảng hàng không; quy trình cung cấp, cập nhật, trao đổi và sử dụng thông tin, dữ liệu liên quan đến hoạt động khai thác.
Bên cạnh đó, quy trình cũng quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn, đầu mối phối hợp và cơ chế ra quyết định của từng cơ quan, đơn vị; cơ chế vận hành dự phòng trong trường hợp hệ thống, công cụ chia sẻ thông tin hoặc đường truyền trao đổi dữ liệu bị gián đoạn, suy giảm năng lực hoặc không bảo đảm chất lượng dữ liệu.
Đáng chú ý, Thông tư quy định cụ thể nhóm cảng hàng không có tần suất bay từ 100.000 lượt chuyến trong 1 năm phải xây dựng và thiết lập A-CDM trong thời hạn tối đa 36 tháng kể từ thời điểm đạt ngưỡng này.
Đối với các cảng có tần suất bay dưới 100.000 lượt chuyến/năm. Thông tư định hướng chủ động xây dựng lộ trình triển khai phù hợp với năng lực khai thác thực tế.
Theo nhận định của cơ quan quản lý, quy định này giúp việc triển khai A-CDM có trọng tâm, ưu tiên các cảng có sản lượng lớn. Đồng thời, tạo cơ sở để mở rộng mô hình theo lộ trình đã đăng ký với Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) khu vực, trước mắt tại Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng và các cảng có nhu cầu trong giai đoạn tiếp theo.
Trao đổi với PV Báo Xây dựng, ông Nguyễn Dương - Trưởng phòng Quản lý Cảng hàng không, sân bay (Cục Hàng không Việt Nam) đánh giá, mô hình A-CDM giúp nâng cao khả năng dự báo, lập kế hoạch và phối hợp ra quyết định trong khai thác; chuẩn hóa các mốc thời gian; giảm thời gian chờ, giảm ùn tắc trên sân đỗ, đường lăn; tối ưu việc sử dụng vị trí đỗ, cửa ra tàu bay, quầy làm thủ tục và các nguồn lực phục vụ mặt đất.
Đặc biệt, mô hình này hỗ trợ nâng cao tỷ lệ đúng giờ, cải thiện thời gian quay đầu tàu bay, giảm lãng phí slot, nhiên liệu và phát thải, đồng thời tạo nền tảng tích hợp với quản lý luồng không lưu (ATFM) trong thời gian tới.
"Thực tế triển khai tại hai Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất cho thấy A-CDM đã hỗ trợ hiệu quả công tác điều hành trong giai đoạn sản lượng cao, tăng cường chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực và đồng bộ hóa quyết định khai thác giữa các bên liên quan", ông Dương nhấn mạnh.
Cũng theo ông Dương, mô hình A-CDM đã được quy định tại Thông tư số 29/2021/TT-BGTVT, tuy nhiên Thông tư 52/2026/TT-BXD quy định chi tiết hơn về phạm vi áp dụng, nội dung quy trình, thành phần tham gia và trách nhiệm phối hợp của từng cơ quan, đơn vị.
Qua đó, người khai thác cảng hàng không có cơ sở chủ động trong việc xây dựng quy trình, tổ chức điều phối, chuẩn bị hệ thống, nhân sự và cơ chế chia sẻ dữ liệu. Ngoài ra, các hãng hàng không, đơn vị phục vụ mặt đất, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay và cơ sở quản lý luồng không lưu cũng có căn cứ để chủ động phối hợp, cung cấp thông tin và tuân thủ quy trình A-CDM.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận