Bài toán định giá và đầu ra cho IP Việt
Khi văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực kinh tế, giá trị của một IP không chỉ nằm ở câu chuyện hay nhân vật mà còn ở khả năng được phát triển thành sản phẩm và tạo doanh thu.
Nhưng để làm được điều đó, thị trường phải giải nhiều bài toán từ định giá, sản xuất đến phân phối.

Cuốn sách "Tết ở làng Địa Ngục" của nhà văn Thảo Trang.
Chia sẻ với Báo Xây dựng về những thách thức khi phát triển tài sản trí tuệ (IP) tại thị trường Việt Nam, nhà văn Thảo Trang cho rằng, bên cạnh khả năng đáp ứng thị hiếu và tính khả thi trong sản xuất, việc định giá IP cũng là một chiến lược quan trọng.
Theo chị, giá bán sản phẩm không đơn giản được tính từ vốn cộng lợi nhuận. Nếu mục tiêu là bán được nhiều, tiếp cận nhiều khách hàng hơn, chủ sở hữu IP có thể chấp nhận giảm biên lợi nhuận, thậm chí hòa vốn, để mở rộng khả năng tiếp cận sản phẩm.
"Tuy nhiên, hiện nay các chủ sở hữu IP chưa quá am hiểu về luật pháp. Do đó họ phải bán IP của mình với mức giá rẻ mạt. Bản thân các nhà sản xuất khi mua 1 IP cũng rất mông lung, không nhìn nhận rõ được thị trường.
Rất nhiều nhà sáng tạo có ý tưởng sản phẩm tốt, nhưng không thể đàm phán chi phí sản xuất khiến giá thành đội lên cao.
Trong bối cảnh kinh tế nhiều cạnh tranh, việc kinh doanh các sản phẩm mang giá trị cảm xúc vừa khó lại vừa dễ. Nhiều các nhà sáng tạo không có tư duy kinh doanh, phải ngậm ngùi dẹp bỏ ý tưởng.
Tôi rất ủng hộ việc thời gian gần đây, cơ quan chức năng siết chặt bản quyền. Nhưng, vấn đề khiến các nhà sản xuất, người bán hàng lo lắng nhất chính là sàn thương mại điện tử (đầu ra của sản phẩm).
Các sàn thương mại điện tử liên tục tăng chi phí chiết khấu gần như đã bóp nghẹt lợi nhuận của người bán.
Do đó, bên cạnh việc tạo điều kiện tiếp cận dòng vốn, khuyến khích sáng tạo, tôi kỳ vọng các cơ quan chức năng cùng phối hợp để xây dựng nền tảng thị trường vững chắc.
Người Việt Nam không thiếu ý tưởng thương mại văn hóa, họ chỉ chưa biết sẽ bán ở đâu, bán như thế nào", Thảo Trang nói.
Thiếu cơ chế định giá và bảo vệ tài sản
Trong lĩnh vực mỹ thuật, nhà nghiên cứu và giám tuyển Lý Đợi cho rằng 40 năm sau công cuộc Đổi mới, mỹ thuật Việt Nam đã trải qua những chuyển động mạnh mẽ: từ chỗ chỉ "bán ra nước ngoài", nay bắt đầu "mua lại cho mình".
Tuy nhiên, thị trường trong nước vẫn ở giai đoạn "sơ cấp, non trẻ và thiếu chuyên nghiệp", khi "người sáng tác, người mua và cơ chế giao dịch vẫn rời rạc, thiếu kết nối".
Nhìn nhận tập trung vào hệ thống cấu trúc, trụ cột pháp lý, ông Lý Đợi cho rằng, một thị trường nghệ thuật đúng nghĩa phải có 8 trụ cột gồm: (1) chủ thể sáng tạo; (2) người sở hữu đầu tiên; (3) các mắt xích trung gian (phòng tranh, nhà triển lãm, người môi giới, nhà đầu tư, phê bình, báo chí, tạp chí, KOL, mạng xã hội; (4) nhà đấu giá, hội chợ, giám tuyển, các nhà sưu tập thứ cấp; (5) Thẩm định, định giá, bảo dưỡng, phục chế; (6) Ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, chuyển tiền, hải quan, thuế; (7) Các chế tài pháp luật và bảo hộ tài sản; (8) Hậu cần.
Theo ông Lý Đợi, 3 trụ cột đầu tiên đã tương đối định hình rõ ràng khi dần đi vào quỹ đạo, với pháp lý, pháp chế dần rõ ràng. Cùng với đó là sự xuất hiện của những chuyên gia có bằng cấp, chuyên môn và kinh nghiệm về các lĩnh vực này.
Thẩm định, định giá, bảo dưỡng, phục chế… là một trụ cột quan trọng của thị trường. Ông Đợi đánh giá, dù trụ cột này đã manh nha, nhưng còn thiếu nhiều trung tâm và chuyên gia, hoạt động manh mún, trồi sụt về chất lượng, chưa tạo được niềm tin.

Hình ảnh tại rriển lãm “Câu chuyện tình yêu – Love story”. (Ảnh: B&C Maison d'Art).
Tuy nhiên, ông Lý Đợi khẳng định, những thách thức trong thị trường nghệ thuật tại Việt Nam trong thời gian qua là sự thiếu vắng, chưa đồng bộ của hai trụ cột là: Ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, chuyển tiền, hải quan, thuế; Các chế tài pháp luật và bảo hộ tài sản.
Về bảo hiểm cho tranh, ông Đợi cho biết, Công ty Cổ phần Bảo Minh bán đồng giá rủi ro tài sản cho việc thất lạc và tìm kiếm, với giá bán tương đương 15 USD/1 hiện vật. Điều này chưa hợp lý với tác phẩm nghệ thuật.
Doanh nghiệp bảo hiểm Chubb có hơn 60 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo hiểm các tác phẩm mỹ thuật và hàng hóa có giá trị, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn về thẩm định, định giá và thế chấp ngân hàng, nên các hợp đồng bảo hiểm cũng ít khi được thực hiện tại Việt Nam.
Vấn đề chuyển tiền ra nước ngoài để mua tranh, hoặc chuyển tranh ra nước ngoài bán xong chuyển tiền về Việt Nam cũng còn vô số vướng mắc về pháp lý, hải quan và thuế má.
"Hiện nay nhiều nước (ví dụ Pháp) đã hoàn chỉnh hộ chiếu, thị thực và các hóa đơn cho một bức tranh khi xuất cảnh, điều này nhằm bảo vệ người mua ở nhiều khía cạnh, trong đó có việc chuyển tiền, đóng thuế và hoàn thuế (nếu có).
Từ Việt Nam gửi/ cầm bức tranh ra nước ngoài khá dễ, ở chiều ngược lại cũng tương đối dễ, nhưng nếu phát sinh giao dịch, với các khoản tiền lớn bằng Euro, USD, Nhân dân tệ… việc thanh toán vô cùng rắc rối, thậm chí không thể giao dịch thành công.
Chính điều này là một ngăn trở trong việc thực hiện các phiên đấu giá, giao dịch, hội chợ tại Việt Nam. Các nhà đấu giá quốc tế như Sotheby's, Christie's, Bonhams, Phillips… từng đến Việt Nam để tìm hiểu cơ chế tài chính cho các hoạt động đặc thù, kết quả chưa đáp ứng các yêu cầu cho một phiên đấu giá quốc tế, hoặc một hội chợ nghệ thuật quốc tế.
Bán hàng giả có thể bị xử lý theo khung hình phạt quy định tại Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Nhưng bán tranh giả/nhái thì chưa thể xử lý, dù giá trị tài sản có thể cao hơn, vì còn vướng ở trụ cột 5. Đó là chưa minh bạch, uy tín về thẩm định, định giá… nên khó áp vào các chế tài pháp lý.
Do đó, chỉ khi kiện toàn 3 trụ cột (số 5, 6, 7), thị trường mỹ thuật thứ cấp mới tạm hoàn chỉnh, minh bạch, nơi nhà nước có thể quản lý bằng chế tài pháp luật và thu thuế, hoàn thuế…", ông Lý Đợi phân tích.
Gỡ nút thắt định giá và vốn cho IP Việt
Theo đánh giá của cơ quan quản lý, tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào GDP giai đoạn 2018-2025 mới đạt khoảng 4-5%, còn khoảng cách khá xa so với mục tiêu tối thiểu 7% vào năm 2030 theo Nghị quyết số 80-NQ/TW.
Điều đó cho thấy công nghiệp văn hóa khó có thể tạo bước bứt phá nếu thiếu một "cú huých" đủ mạnh từ chính sách kiến tạo của Nhà nước.

Hình ảnh tại Hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, diễn ra vào chiều 11/8 ở Hà Nội. (Ảnh: Việt Hùng/MCST).
Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo đang trở thành xu hướng phát triển của nhiều quốc gia, việc thiếu một đạo luật mang tính tổng thể khiến nhiều tiềm năng văn hóa chưa thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế.
Không ít sản phẩm sáng tạo có chất lượng nhưng gặp khó trong huy động nguồn lực, bảo hộ tài sản trí tuệ, tiếp cận thị trường cũng như mở rộng quy mô sản xuất.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến đã mở ra nhiều kỳ vọng cho thị trường phát triển tài sản trí tuệ tại Việt Nam.
Một trong những chính sách đáng chú ý là dự thảo đề xuất cho phép sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm. Giao Ngân hàng Nhà nước chủ trì xây dựng cơ chế quản lý rủi ro, bảo lãnh tín dụng, chia sẻ rủi ro và hướng dẫn các tổ chức tín dụng cấp vốn dựa trên giá trị tài sản trí tuệ hoặc quyền tài sản phát sinh
Ngoài ra, dự thảo còn đề xuất giải pháp số hóa, định danh và chuẩn hóa quản lý tài sản trí tuệ. Cụ thể là áp dụng mã định danh tài sản trí tuệ tương thích quốc tế để nhận diện, truy xuất và kết nối dữ liệu liên thông trên môi trường số.
Bài toán định giá cũng được đặt thành một nội dung riêng trong dự thảo. Nhà nước dự kiến xây dựng phương pháp, tiêu chuẩn định giá phù hợp thông lệ quốc tế, đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ thẩm định viên, luật sư, cán bộ tín dụng và công khai định kỳ cơ sở dữ liệu giá giao dịch thực tế để làm căn cứ tham chiếu.

Ông Nguyễn Huy Dũng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Việt Hùng/MCST).
Tại Hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền Bắc, ông Nguyễn Huy Dũng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, trong quá trình xây dựng dự thảo luật, ban soạn thảo đã tham vấn với Bộ Khoa học và Công nghệ và làm việc chặt chẽ với các đơn vị liên quan, đặc biệt là Cục Sở hữu trí tuệ.
Theo ông, Bộ Khoa học và Công nghệ đã khẳng định, giữa dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa với Luật Sở hữu trí tuệ không có sự chồng lấn, chồng chéo, bởi mỗi luật giải quyết một vấn đề.
Cụ thể, Luật Sở hữu trí tuệ giải quyết vấn đề xác lập và bảo hộ quyền. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tập trung vào việc chuyển hóa các quyền đã được xác lập và bảo hộ thành tài sản.
Theo Thứ trưởng, hiện nay các quyền đã có nhưng ngân hàng không xác định được giá trị và không chấp nhận được rủi do. Vì vậy, tài sản văn hóa vẫn không có giá trị thế chấp và tín chấp. Như vậy, không thể trở thành một ngành công nghiệp.
"Đó là vấn đề mà chúng tôi muốn giải quyết trong dự thảo luật. Chúng tôi không đi giải quyết câu chuyện xác lập quyền và bảo hộ quyền, vì đó là câu chuyện của Luật Sở hữu trí tuệ. Chúng tôi giải quyết câu chuyện làm sao quyền đó có thể chuyển hóa thành tài sản.
Từ đó, các cá nhân, tổ chức khởi nghiệp sở hữu tài sản trí tuệ, có thể mang tài sản đó ra ngân hàng thế chấp, vay tín dụng", thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nói.
Tuy nhiên, để làm được việc đó, thứ trưởng cho biết, ban soạn thảo vẫn đang tiếp tục suy nghĩ về vấn đề này và sẽ có buổi tham vấn các chuyên gia về ngân hàng để tìm ra cách thức phù hợp.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận