Tại hội thảo "Từ đường sắt thông minh đến giao thông thông minh và thành phố thông minh: Nhu cầu nguồn nhân lực" diễn ra tại TP.HCM ngày 13/3, do Trường đại học Việt Đức phối hợp với Sở Xây dựng TP.HCM, Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM... cùng tổ chức, các chuyên gia cho rằng nhu cầu nguồn nhân lực cho ngành đường sắt đô thị là rất lớn.
TP.HCM có 27 tuyến đường sắt đô thị dài 1.024km

Chuyên gia trình bày về giao thông thông minh tại hội thảo ngày 13/3.
Áp lực giao thông tại TP.HCM ngày càng gia tăng khi quy mô dân số và phương tiện cá nhân liên tục tăng trong nhiều năm qua. Trong khi đó, khả năng mở rộng hạ tầng đường bộ ngày càng hạn chế do đất đô thị chật hẹp. Trong bối cảnh đó, việc phát triển hệ thống vận động tải công cộng khối lượng lớn, đặc biệt là đường sắt đô thị, được xem là giải pháp chiến lược để giảm quy tắc và tổ chức lại không gian đô thị.
Theo ông Nguyễn Duy Thạch, Giám đốc Ban chuẩn bị đầu tư thuộc Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM cho biết: TP.HCM đang bước vào giai đoạn phát triển mạng lưới metro với quy mô rất lớn, gắn kết với định hướng phát triển đô thị dài hạn của thành phố và khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.
Theo kế hoạch, mạng lưới đường sắt đô thị TP.HCM có tổng chiều dài khoảng 1.024km với 27 tuyến gồm 3 khu vực TP.HCM (cũ), Bình Dương (cũ) và Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ).
Tuyến metro được định hướng kết nối trung tâm TP.HCM với các khu đô thị mới, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và hệ thống giao thông vành đai. Khi hoàn thành, hệ thống này sẽ trở thành "xương sống" của mạng lưới vận tải công cộng, kết nối với các loại hình vận chuyển khác như xe buýt, BRT và các phương tiện di chuyển cá nhân.
Theo ông Thạch, phát triển metro không chỉ cố gắng giải quyết nhu cầu đi lại trước mắt mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tái cấu trúc không gian đô thị.
"Ở nhiều thành phố lớn trên thế giới, metro không chỉ là hệ thống giao thông mà còn là công cụ tổ chức phát triển đô thị. Các khu vực xung quanh nhà ga thường trở thành các trung tâm phát triển mới với mật độ dân cư cao, hệ thống thương mại - dịch vụ phát triển và khả năng kết nối thuận lợi", ông Thạch cho biết.
TP.HCM cũng đang hướng tới mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng. Theo đó, các khu đô thị mới sẽ được triển khai xung quanh các nhà ga metro nhằm tối ưu hóa việc sử dụng đất, giảm sự phụ thuộc vào phương tiện cá nhân và nâng cao hiệu quả vận hành công cộng.
Đến năm 2030, TP.HCM sẽ ưu tiên 4 tuyến với tổng chiều dài khoảng 168km, tổng vốn đầu tư khoảng 16 tỷ USD, tương đương khoảng 420 nghìn tỷ đồng.
Trong đó, tuyến số 1 thành phố mới Bình Dương - Suối Tiên dài khoảng 33km, vốn 1,8 tỷ USD; tuyến số 2 Tham Lương - Bến Thành - Thủ Thiêm - Long Thành dài gần 60km, vốn khoảng 6,6 tỷ USD; tuyến số 6 từ Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất tới Phú Hữu dài 22km với 3,3 tỷ USD. Tuyến này đi ngầm hơn 20km cùng 15 nhà ga và 2km đi nổi cùng 2 nhà ga, 1 depot tại Bình Triệu rộng khoảng 21,2ha.
Tuyến số 12 từ Bến Thành đi Cần Giờ dài 54km được đầu tư trực tiếp do nhà đầu tư Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đường sắt cao tốc Vinspeed đầu tư 4,4 tỷ USD.
Song song với việc phát triển hạ tầng, xu hướng metro trên thế giới hiện nay gắn chặt với việc ứng dụng công nghệ số để hình thành hệ thống đường sắt thông minh.
Theo các chuyên gia tại hội thảo về giao thông thông minh, metro hiện đại không chỉ là phương tiện vận tải tiện ích mà còn là nền tảng dữ liệu quan trọng của đô thị .
Trong quá trình vận hành, hệ thống metro tạo ra lượng dữ liệu rất lớn từ nhiều nguồn khác nhau như hệ thống vé điện tử, dữ liệu hành khách, camera giám sát, cảm biến hạ tầng, thiết bị vận hành và hệ thống điều khiển tàu.
Khi được phân tích bằng các công nghệ như Trí tuệ nhân tạo , dữ liệu lớn hay điện toán đám mây, những dữ liệu này có thể giúp tối ưu hóa toàn bộ hoạt động của hệ thống.
Bài toán nhân lực cho mạng lưới metro
Nếu mục tiêu và công nghệ là hai cột trụ của hệ thống metro, thì nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định khả năng vận hành bền vững của toàn bộ mạng lưới.
Theo ông Trần Võ Anh Minh, Phó Trưởng phòng Quản lý Đường sắt Đô thị (Sở Xây dựng TP.HCM), phát triển metro không chỉ là đầu tư cho hạ tầng mà trước hết là đầu tư cho con người.
TP.HCM đang xây dựng đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phục vụ phát triển mạng lưới đường sắt đô thị giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Theo dự báo của thành phố, nhu cầu nhân lực cho lĩnh vực đường sắt đô thị trong tương lai sẽ tăng rất nhanh.

Tuyến đường sắt Bến Thành - Suối Tiên đã đi vào hoạt động sau gần 20 năm xây dựng.
Cụ thể, nhân lực tham gia thiết kế và tư vấn có thể đạt được khoảng 2.100 người; xây dựng có thể tăng lên hơn 20.000 người; trong khi nhân lực vận hành và khai thác hệ thống metro dự kiến khoảng 17.000 người vào năm 2045 .
Như vậy, tổng nhu cầu nhân lực cho toàn bộ hệ thống metro của TP.HCM trong tương lai có thể lên tới gần 40.000 người .
Trong khi đó, nguồn nhân lực hiện nay vẫn còn khá hạn chế. Phần lớn kỹ sư đang tham gia phát triển các dự án metro từ các ngành gần đây như xây dựng, cơ khí, điện tử hoặc công nghệ thông tin, chưa được đào tạo chuyên sâu về đường sắt đô thị. Nhiều khâu quan trọng của dự án vẫn phải phụ thuộc vào chuyên gia và nhà thầu quốc tế.
Theo ông Minh, để giải quyết vấn đề này, TP.HCM đang triển khai chiến lược đào tạo theo hướng "đào tạo đi trước một bước so với tiến độ đầu tư hạ tầng" .
Điều đó có nghĩa là khi các tuyến tàu điện ngầm được xây dựng và đưa vào vận hành, thành phố cần có sẵn đội ngũ nhân lực đủ năng lực để quản lý, vận hành và bảo trì hệ thống.
Một nguyên tắc quan trọng khác là gắn đào tạo cho các dự án thực tế.
"Mỗi dự án metro không chỉ là công trình hạ tầng mà còn là môi trường đào tạo thực tiễn và chuyển giao công nghệ cho đội ngũ kỹ sư trong nước", ông Minh nhấn mạnh.
Các cơ sở đào tạo như Đại học Bách khoa TP.HCM hay Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM được kỳ vọng sẽ tham gia xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu về đường sắt đô thị.
Theo PGS.TS Vũ Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giao thông Việt Đức thuộc Trường Đại học Việt Đức, nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực giao thông đường sắt tại Việt Nam trong thời gian tới sẽ tăng mạnh.
Ông Tuấn cho biết, riêng dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam có thể cần từ 260.000 đến 330.000 kỹ sư, kỹ thuật viên và công nhân, chưa kể đội ngũ vận hành và bảo trì hệ thống.
Đối với mạng lưới đường sắt đô thị tại TP.HCM và Hà Nội, mỗi thành phố trong tương lai cũng có thể cần tới khoảng 30.000 kỹ sư và kỹ thuật viên để đáp ứng nhu cầu xây dựng và vận hành hệ thống.
Theo ông Tuấn, để phát triển hệ thống giao thông hiện đại, yêu cầu một thế hệ kỹ sư mới có năng lực đa ngành, có khả năng tích hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực như kỹ thuật vận động tải, cơ khí, công nghệ ô tô, khoa học máy tính và quản lý hệ thống.
Những kỹ sư này không chỉ tham gia thiết kế và xây dựng hạ tầng mà còn có khả năng phát triển các giải pháp giao thông thông minh, ứng dụng công nghệ số, phân tích dữ liệu và tối ưu hóa hoạt động của hệ thống vận hành đô thị.
Bên cạnh năng lực kỹ thuật, các chuyên gia cho rằng đội ngũ kỹ sư giao thông tương lai cũng cần có tư duy phản biện, khả năng đánh giá tác động của các giải pháp giao thông đối với môi trường, an toàn, hiệu quả về năng lượng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đồng thời, việc tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế và các mô hình giao thông tiên tiến trên thế giới cũng sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực trong lĩnh vực giao thông thông minh.
Có thể thấy, việc phát triển đường sắt đô thị không chỉ là câu chuyện xây dựng các tàu điện ngầm hay trên cao. Đó là quá trình hình thành một hệ sinh thái giao thông thông minh, nơi hạ tầng, công nghệ và con người phải phát triển đồng bộ.
Với TP.HCM, việc chuẩn bị đầy đủ từ mạng lưới, ứng dụng công nghệ số cho đào tạo nguồn nhân lực sẽ quyết định khả năng thành công của hệ thống metro trong tương lai. Đồng thời, đây cũng là bước đi quan trọng để thành phố từng bước xây dựng nền tảng cho một đô thị thông minh, hiện đại và phát triển bền vững.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận