Nhận bản tin miễn phí
Thời sự Xây dựng Giao thông Kinh tế Pháp luật Chất lượng sống Văn hóa - Giải trí Thể thao Công nghệ Thế giới Đi ++ Video Multimedia
Báo Xây dựng - Tin tức trong ngày, tin mới nhất, tin nhanh 24h Môi trường

Từ ứng phó biến đổi khí hậu đến kiến tạo mô hình tăng trưởng mới

Từ ứng phó biến đổi khí hậu đến kiến tạo mô hình tăng trưởng mới

23/01/2026, 10:35

Ứng phó biến đổi khí hậu là động lực chuyển đổi mô hình phát triển, tăng trưởng bền vững. Báo Xây dựng giới thiệu bài viết của PGS.TS Nguyễn Đình Thọ - Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường.

Quan điểm ứng phó biến đổi khí hậu qua từng thời kỳ

Giai đoạn 1986 đến 1996 gắn với yêu cầu cấp bách khắc phục khủng hoảng kinh tế xã hội sau nhiều năm trì trệ. Mục tiêu bảo đảm lương thực, ổn định đời sống và khôi phục sản xuất đặt ra sức ép lớn đối với tư duy phát triển. Tài nguyên thiên nhiên, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu chủ yếu được nhìn nhận như nguồn lực trực tiếp cho tăng trưởng, phục vụ công nghiệp hóa nông nghiệp và mở rộng sản xuất. Đại hội VI năm 1986 chưa hình thành tư duy ứng phó biến đổi khí hậu độc lập, các nội dung liên quan mới dừng ở yêu cầu khai thác hợp lý nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng nhanh. Môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu được hiểu như hệ quả của sản xuất, chưa trở thành đối tượng quản trị riêng biệt trong hệ thống chính sách.

Từ ứng phó biến đổi khí hậu đến kiến tạo mô hình tăng trưởng mới- Ảnh 1.

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Ảnh: Lan Anh.

 Bước chuyển quan trọng xuất hiện tại Đại hội VII năm 1991 khi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đề cập rõ yêu cầu bảo vệ môi trường và giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và mai sau. Nhận thức ứng phó biến đổi khí hậu phản ánh sự thay đổi về chất trong tư duy phát triển, thừa nhận giới hạn sinh thái và tính liên thế hệ của tài nguyên.

Quan điểm về môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu tạo tiền đề cho việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, đánh dấu quá trình luật hóa định hướng của Đảng.

Đại hội VIII năm 1996 tiếp tục đặt vấn đề môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu gắn với công nghiệp hóa, nhấn mạnh xử lý chất thải và bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, dù tư duy chiến lược về khí hậu chưa hình thành rõ ràng.

Từ năm 2001 đến năm 2016, tư duy lý luận về ứng phó biến đổi khí hậu gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng và tác động ngày càng rõ của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đại hội IX năm 2001 lần đầu đưa khái niệm biến đổi khí hậu vào văn kiện, phản ánh sự nhận diện sớm nguy cơ toàn cầu đối với Việt Nam, quốc gia chịu rủi ro lớn từ nước biển dâng và thiên tai.

Các Đại hội X năm 2006 và XI năm 2011 tiếp tục mở rộng nội hàm bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu xác định môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu giữ vai trò sống còn đối với mỗi quốc gia. Nghị quyết 24/NQ-TW năm 2013 đặt nền tảng cho chính sách khí hậu quốc gia theo hướng chủ động thích ứng và tăng cường quản lý tài nguyên. Dù định hướng rõ ràng, mô hình tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, dẫn đến nhiều hệ lụy môi trường nghiêm trọng.

Giai đoạn 2016 đến 2021 đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu. Đại hội XII năm 2016 chỉ ra hạn chế trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, đặt môi trường ngang hàng với kinh tế và xã hội trong cấu trúc phát triển.

Đại hội XIII năm 2021 thể hiện bước tiến mang tính đột phá khi khẳng định nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, coi bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân là mục tiêu hàng đầu. Kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh được xác định như định hướng phát triển tất yếu, trong khi bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu trở thành nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị. Tư duy lý luận giai đoạn này cho thấy sự trưởng thành rõ rệt trong nhận thức về giới hạn sinh thái và con đường phát triển dài hạn của đất nước.

Tầm nhìn chiến lược trong văn kiện đại hội XIV và định hướng 2026-2030

Tư duy chính sách và giải pháp thực thi về ứng phó biến đổi khí hậu của Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành từ quá trình phát triển lý luận gắn với mục tiêu dài hạn đưa đất nước tiến vào giai đoạn phát triển mới. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV phản ánh bước nâng cấp căn bản về cách nhìn đối với khí hậu, môi trường và mô hình tăng trưởng. Ứng phó biến đổi khí hậu được đặt vào cấu trúc chiến lược phát triển quốc gia với vai trò định hướng cho phân bổ nguồn lực, thiết kế thể chế và tổ chức bộ máy quản lý. Tư duy kiến tạo hệ sinh thái phát triển xanh trở thành nền tảng cho lựa chọn chính sách giai đoạn 2026-2030.

Khái niệm chuyển đổi kép xanh và số thể hiện rõ sự hội tụ giữa tiến bộ công nghệ và yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái. Công nghệ số giữ vai trò công cụ then chốt cho quản trị tài nguyên, năng lượng và phát thải thông qua dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và Internet vạn vật.

Từ ứng phó biến đổi khí hậu đến kiến tạo mô hình tăng trưởng mới- Ảnh 2.

Vị thế của môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu được nâng lên thành trụ cột trung tâm trong tư duy phát triển bền vững. Ảnh: Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm.

 Quá trình xanh hóa nền kinh tế tạo ra thị trường mới cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ cao, dịch vụ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và hạ tầng thông minh. Định hướng dẫn dắt nền kinh tế rời xa mô hình dựa vào khai thác tài nguyên và năng lượng hóa thạch, chuyển sang quỹ đạo tăng trưởng dựa trên tri thức, hiệu quả và giá trị gia tăng cao.

Cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 được xác lập là sứ mệnh chính trị với tính pháp lệnh cao. Toàn bộ hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân được huy động tham gia quá trình chuyển đổi. Các nhóm nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu trọng tâm tập trung vào hoàn thiện thể chế, huy động tài chính xanh, chuyển giao công nghệ, xây dựng mô hình quản trị phát triển xanh và đào tạo nguồn nhân lực. Cam kết Net Zero trở thành kim chỉ nam cho chiến lược năng lượng, công nghiệp, giao thông và nông nghiệp giai đoạn tới.

Giai đoạn chuẩn bị cho Đại hội XIV chứng kiến làn sóng cải cách thể chế sâu rộng nhằm cụ thể hóa định hướng chiến lược. Danh mục phân loại xanh quốc gia tạo chuẩn mực kỹ thuật cho dòng vốn tín dụng và trái phiếu xanh, bảo đảm tính minh bạch và hạn chế hành vi tẩy xanh. Khung pháp lý cho thị trường các bon hình thành với lộ trình thí điểm và vận hành chính thức, hướng tới kết nối quốc tế. Chiến lược kinh tế tuần hoàn quốc gia đặt mục tiêu định lượng rõ ràng về tiết kiệm năng lượng, nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Cải cách bộ máy quản lý nhà nước hướng tới thống nhất quản lý đất đai, tài nguyên sinh học và bảo vệ môi trường, tạo điều kiện phối hợp chính sách chặt chẽ hơn giữa nông nghiệp, sinh thái và khí hậu. Cục Biến đổi khí hậu tiếp tục giữ vai trò đầu mối quốc gia về quản lý thị trường các bon và thực thi cam kết quốc tế.

Vai trò của các thành phần kinh tế được phân định rõ ràng. Kinh tế nhà nước giữ sứ mệnh dẫn dắt trong các lĩnh vực then chốt liên quan tới an ninh năng lượng và hạ tầng xanh thông qua cơ chế đầu tư dài hạn và quản trị rủi ro. Kinh tế tư nhân trở thành động lực đổi mới sáng tạo, tham gia sâu vào công nghệ giảm phát thải, nông nghiệp tuần hoàn và dịch vụ môi trường. Sự phối hợp giữa hai khu vực tạo nền tảng cho hệ sinh thái phát triển xanh vận hành hiệu quả.

Ứng phó biến đổi khí hậu gắn trực tiếp với an ninh phi truyền thống, bao gồm rủi ro khí hậu, thiên tai cực đoan, tác động sâu rộng tới ổn định kinh tế xã hội và an ninh quốc gia. Vị thế của môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu được nâng lên thành trụ cột trung tâm trong tư duy phát triển bền vững. Theo đó, logic hoạch định chính sách dịch chuyển sang ưu tiên dài hạn, coi giới hạn sinh thái là ranh giới định hình cho quy hoạch phát triển.


Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.