Bài toán bãi đỗ xe của Hà Nội đang chịu sức ép kép: số lượng phương tiện tiếp tục tăng trong khi quỹ đất đô thị hạn chế, cùng lúc thành phố phải chuẩn bị hạ tầng cho quá trình điện hóa phương tiện.
Vấn đề này được đặt ra tại Hội thảo khoa học “Cơ sở pháp lý, thực trạng và giải pháp phát triển bãi đỗ xe thông minh kết hợp trạm sạc tại Thủ đô Hà Nội – Tầm nhìn 100 năm” do Viện Hỗ trợ Pháp lý và Bảo vệ Môi trường vừa tổ chức.
Theo các tham luận tại hội thảo, Hà Nội hiện có khoảng 9,2-9,3 triệu phương tiện giao thông, trong khi đất dành cho giao thông tĩnh chưa tới 1% đất xây dựng đô thị, thấp đáng kể so với định hướng khoảng 3-4%. Hệ thống bãi đỗ hiện hữu được cho là mới đáp ứng khoảng 8-10% nhu cầu.
Những con số cho thấy một nghịch lý ngày càng rõ: phương tiện có thể tăng thêm hàng năm, nhưng đất đô thị không thể tiếp tục “nở” ra tương ứng.
Vì vậy, câu hỏi không còn chỉ là Hà Nội cần thêm bao nhiêu bãi đỗ, mà là mỗi mét vuông đất dành cho giao thông có thể được khai thác hiệu quả đến đâu.

Hà Nội hiện có khoảng 9,2-9,3 triệu phương tiện giao thông, trong khi đất dành cho giao thông tĩnh chưa tới 1% đất xây dựng đô thị. Ảnh: Lê Tươi
Không thể tiếp tục giải bài toán bằng cách tìm thêm đất
Theo TS Bùi Hồng Cường, Viện trưởng Viện Hỗ trợ Pháp lý và Bảo vệ Môi trường, một hướng tiếp cận là chuyển từ bãi đỗ xe đơn thuần sang các trung tâm dịch vụ giao thông - năng lượng thông minh.
Nếu tiếp tục phát triển chủ yếu các bãi đỗ mặt đất, thành phố sẽ phải đánh đổi ngày càng nhiều một nguồn lực đắt đỏ là không gian đô thị.
Trong khi đó, nhu cầu hạ tầng cũng đang thay đổi. Bãi đỗ trong tương lai không chỉ cần chỗ cho phương tiện mà còn phải tính đến trạm sạc xe điện, nguồn điện, quản lý dữ liệu và kết nối với mạng lưới giao thông công cộng.
Một trong những phương án được đưa ra tại hội thảo là mô hình tích hợp bãi đỗ xe thông minh, trạm sạc, điện mặt trời mái nhà và hệ thống lưu trữ năng lượng.
Tham luận của TS Trịnh Xuân Đức, Phó chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam và TS Nguyễn Trung Hiếu, Viện phó Viện Khoa học Kỹ thuật hạ tầng và Môi trường cho rằng, giá trị của mô hình không đơn thuần nằm ở việc ghép nhiều công nghệ vào một công trình, mà ở khả năng nâng hiệu quả sử dụng đất.
Thay vì mở rộng bãi đỗ theo chiều ngang, có thể khai thác theo chiều cao. Bãi nhiều tầng tăng số phương tiện trên cùng diện tích; mái công trình có thể bố trí điện mặt trời; thời gian xe đỗ đồng thời trở thành thời gian sạc.
Một phép tính minh họa của nhóm nghiên cứu cho thấy, với khu đất 1.500m², nếu bố trí ba tầng đỗ, sức chứa có thể tăng từ khoảng 40 lên 120 xe. Diện tích đất quy đổi cho mỗi vị trí đỗ nhờ đó giảm từ 37,5m² xuống còn 12,5m².
Nhóm tác giả lưu ý đây chỉ là kịch bản minh họa, không phải chỉ tiêu thiết kế hay quy hoạch đã được phê duyệt.
Bà Phạm Thị Minh Trinh, Chủ tịch HĐQT Thuận An Holding cho rằng, dù tích hợp thêm nhiều chức năng, giao thông tĩnh vẫn phải là công năng chính. Trạm sạc, năng lượng hay dịch vụ phụ trợ chỉ nên được bổ sung khi phù hợp với quy hoạch, mục đích sử dụng đất, khả năng cấp điện, yêu cầu phòng cháy chữa cháy, môi trường và hiệu quả đầu tư.
Theo bà, một dự án chỉ thực sự “thông minh” khi công nghệ giúp vận hành hiệu quả, an toàn và thuận tiện hơn, thay vì trở thành yếu tố mang tính trình diễn.

Các đại biểu tham dự Hội thảo khoa học “Cơ sở pháp lý, thực trạng và giải pháp phát triển bãi đỗ xe thông minh kết hợp trạm sạc tại Thủ đô Hà Nội – Tầm nhìn 100 năm.
1m2 đất phải tạo nhiều giá trị hơn
Bài toán khai thác đất hiệu quả không có nghĩa mọi bãi đỗ đều phải áp dụng cùng một mô hình.
Tại các cửa ngõ và đầu mối giao thông công cộng, bãi đỗ có thể đóng vai trò “park and ride”: người dân gửi phương tiện rồi tiếp tục hành trình bằng metro hoặc xe buýt. Hiệu quả khi đó không chỉ được tính bằng số xe chứa được mà còn bằng khả năng giảm phương tiện đi vào khu vực trung tâm.
Ở các đô thị mới, nhu cầu có thể đến từ cư dân, người làm việc và khách vãng lai vào những khung giờ khác nhau. Trong khu vực lõi đô thị, giải pháp có thể là cải tạo, nâng tầng các bãi hiện hữu thay vì tiếp tục tìm những khu đất mới.
Vì thế, quy hoạch bãi đỗ không thể chỉ là đánh dấu những ô đất trên bản đồ mà phải gắn với giao thông công cộng, khả năng cung cấp điện, nhu cầu sạc và đặc điểm của từng khu vực.
Một vị trí thuận lợi về giao thông chưa chắc có đủ công suất điện. Một bãi xe có thể tăng thêm hàng trăm chỗ nhưng nếu đường tiếp cận nhỏ lại có nguy cơ tạo thêm điểm ùn tắc.
Điều đó cho thấy bãi đỗ trong tương lai cần được nhìn như một bộ phận của hạ tầng đô thị, thay vì một công trình đứng độc lập.

Bãi đỗ trong tương lai cần được nhìn như một bộ phận của hạ tầng đô thị, thay vì một công trình đứng độc lập.
Pháp lý phải đi trước công nghệ
Nếu các giải pháp công nghệ đã tương đối dễ hình dung, khó khăn lớn hơn lại nằm ở việc đưa mô hình tích hợp vào thực tế.
Một dự án bãi đỗ kết hợp trạm sạc, năng lượng và dịch vụ phụ trợ có thể đồng thời liên quan đến quy hoạch, đất đai, xây dựng, điện lực, phòng cháy chữa cháy và môi trường.
Theo các ý kiến tại hội thảo, dù hệ thống pháp luật và Luật Thủ đô đã mở thêm cơ chế khai thác nguồn lực đất đai, thu hút đầu tư, doanh nghiệp vẫn gặp khó khi một dự án phải đi qua nhiều lĩnh vực quản lý.
Các chuyên gia đề xuất nghiên cứu cơ chế đầu mối điều phối; xây dựng hướng dẫn kỹ thuật tích hợp về phòng cháy chữa cháy, an toàn, môi trường; đồng thời từng bước chuẩn hóa mô hình hợp tác công tư với loại hình hạ tầng này.
Theo đại diện doanh nghiệp, trước khi quyết định thiết kế và tổng mức đầu tư, dự án phải làm rõ chức năng quy hoạch, chỉ tiêu sử dụng đất, phương thức tiếp cận đất, kết nối giao thông, khả năng cấp điện, PCCC, môi trường và trình tự đầu tư.
Một dự án cũng phải đồng thời giải được ba bài toán: bổ sung năng lực giao thông tĩnh nhưng không tạo thêm điểm nghẽn; bảo đảm an toàn, thuận tiện và hỗ trợ chuyển đổi năng lượng; đồng thời có hiệu quả tài chính đủ để vận hành, bảo trì và tái đầu tư.
Cách đầu tư vì vậy được đề xuất chia theo từng giai đoạn. Trước hết cần hoàn thiện pháp lý, hạ tầng cơ bản và yêu cầu an toàn; sau đó mới mở rộng trạm sạc, năng lượng và mức độ tự động hóa theo nhu cầu thực tế.
Cách tiếp cận này cũng giúp hạn chế nguy cơ đầu tư lớn vào một công nghệ có thể nhanh chóng lạc hậu.
TSKH Phan Xuân Dũng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng, với tốc độ phát triển nhanh của khoa học công nghệ, một tầm nhìn dài hạn trước hết phải đặt vào khả năng thích ứng của hạ tầng.
Công nghệ sạc, thanh toán, quản lý vị trí đỗ xe hay phương tiện tự động đều có thể thay đổi nhanh. Những giải pháp được xem là hiện đại hôm nay có thể trở nên lạc hậu sau vài thập kỷ.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội với tầm nhìn dài hạn cũng đặt ra yêu cầu về quỹ đất bãi đỗ, trạm sạc, khai thác không gian đa tầng, giao thông công cộng và năng lượng tái tạo.
Trong bối cảnh Hà Nội vừa thiếu chỗ đỗ vừa phải chuẩn bị hạ tầng cho phương tiện điện, bài toán dài hạn vì thế không chỉ là tìm thêm đất hay lựa chọn một công nghệ mới.
Quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống đủ linh hoạt để công nghệ có thể thay đổi mà hạ tầng không phải liên tục phá bỏ rồi xây lại.
“Tầm nhìn 100 năm” vì thế không phải là đoán chiếc xe hay công nghệ sạc của năm 2126 sẽ như thế nào, mà là thiết kế hạ tầng hôm nay đủ khả năng thích ứng với cả những công nghệ chưa xuất hiện.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận