Nhận bản tin miễn phí
Báo Xây dựng - Tin tức trong ngày, tin mới nhất, tin nhanh 24h Quản lý

Doanh nghiệp “đầu tàu” kiến tạo hạ tầng

Doanh nghiệp “đầu tàu” kiến tạo hạ tầng

-

Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp lớn tiên phong áp dụng công nghệ, thúc đẩy xây dựng xanh, tham gia tích cực vào các dự án hạ tầng chiến lược, góp phần tạo nên diện mạo mới của đất nước.

Bước vào kỷ nguyên mới, vai trò "mở lối" của những doanh nghiệp "đầu tàu" ngày càng thể hiện rõ nét, nhất là trong việc đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Ông Nguyễn Quang Huy, Tổng giám đốc Công ty CP Tập đoàn Đèo Cả:

Thực thi nhanh chính sách

Doanh nghiệp “đầu tàu” kiến tạo hạ tầng- Ảnh 1.

Ông Nguyễn Quang Huy, Tổng giám đốc Công ty CP Tập đoàn Đèo Cả.

Thời gian qua, các chủ trương của Đảng, Nhà nước về đột phá phát triển kết cấu hạ tầng đã được cụ thể hóa bằng nhiều cơ chế, chính sách mang tính tháo gỡ và đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp.

Việc lãnh đạo Đảng, Chính phủ và các Bộ, ngành thường xuyên trực tiếp thăm, kiểm tra hiện trường, đôn đốc tiến độ cũng cho thấy cách tiếp cận rất sát thực tiễn, kịp thời tháo gỡ khó khăn ngay trên công trường.

Tất cả đang cho thấy sự dịch chuyển trong cách tiếp cận của các cơ quan Nhà nước từ "quản lý" sang "đồng hành" và "kiến tạo", tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội phát triển hạ tầng trong giai đoạn tới.

Với mục tiêu xây dựng 5.000km đường cao tốc vào năm 2030 nói riêng và nhiều dự án hạ tầng giao thông lớn đang triển khai trên cả nước, khối lượng công việc là rất lớn. Yêu cầu về tiến độ, chất lượng ngày càng cao, trong khi những biến động nguồn cung và giá nhiên, vật liệu đòi hỏi những giải pháp đồng bộ về thể chế và chính sách.

Doanh nghiệp “đầu tàu” kiến tạo hạ tầng- Ảnh 2.

Cao tốc Cam Lâm - Vĩnh Hảo chính thức đưa vào khai tháng 4/2024, được thực hiện bởi liên danh các nhà đầu tư và nhà thầu lớn, đứng đầu là Tập đoàn Đèo Cả.

Riêng Tập đoàn Đèo Cả, với kinh nghiệm từng triển khai dự án cao tốc Cam Lâm - Vĩnh Hảo trong giai đoạn dịch bệnh chồng "bão giá", doanh nghiệp đang tích cực phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để tháo gỡ các vướng mắc về nhiên, vật liệu.

Do vậy, sự vào cuộc quyết liệt từ các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương, ban hành cơ chế hỗ trợ kịp thời rất cần thiết, giúp nhà đầu tư, nhà thầu giảm thiểu rủi ro và ổn định hoạt động sản xuất, thi công.

Đại tá Phan Phú, Chủ tịch Tổng công ty 319, Bộ Quốc phòng:

Không được phép chậm tiến độ công trình đặc biệt

Doanh nghiệp “đầu tàu” kiến tạo hạ tầng- Ảnh 3.

Giai đoạn 2020-2025, Tổng công ty 319 đã thi công 728 công trình, dự án. Trong đó, đơn vị tham gia thi công 5 công trình trọng điểm quốc gia. Giá trị doanh thu hơn 31.000 tỷ đồng, vượt 210% chỉ tiêu đã xác định; dò tìm, xử lý bom, mìn, vật nổ trên 46.000ha, đạt giá trị sản lượng hơn 2.000 tỷ đồng...

Hiện nay, Tổng công ty 319 đang triển khai thi công nhiều dự án trọng điểm như: Tuyến cao tốc Cà Mau - Cái Nước; mở rộng tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai; đường Vành đai 4 vùng Thủ đô Hà Nội, đường Vành đai 3 TP.HCM; 14 điểm trường nội trú liên cấp các xã biên giới đất liền, là các dự án công trình được triển khai thi công theo diện khẩn cấp, đặc biệt nên không cho phép chậm tiến độ.

Cùng đó, Tổng công ty 319 đã được Bộ Quốc phòng giao chỉ tiêu định hướng giá trị sản xuất, doanh thu năm 2026 xấp xỉ 11.000 tỷ đồng, bằng 110% thực hiện năm 2025.

Ông Phạm Văn Khôi, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Phương Thành:

Khởi đầu cho những mục tiêu lớn

Doanh nghiệp “đầu tàu” kiến tạo hạ tầng- Ảnh 4.

Triển khai nhiều dự án giao thông trọng điểm, nhất là dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông trong khoảng 5 năm gần đây đã mang lại cho chúng tôi nhiều bài học kinh nghiệm lớn. Đây là bước khởi đầu cho những mục tiêu lớn hơn: Cả nước có 5.000km đường bộ cao tốc vào năm 2030, tiến tới hình thành mạng lưới đường bộ cao tốc gần 9.000km vào năm 2050; Khởi công đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, tiếp tục phát triển mạng lưới đường sắt đô thị…

Các dự án quy mô ngày càng lớn, công nghệ cao, tính chất kỹ thuật phức tạp đòi hỏi căn cơ ngay từ tư duy quản lý vĩ mô, hoàn thiện đồng bộ thể chế. Như tinh thần chỉ đạo đã được Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đưa ra: "Xây nhà, thì nền móng phải rất vững chắc. Chúng ta muốn tiếp tục phát triển thì phải gia cố móng nhà".

Về triển khai dự án, nếu trước đây, thời gian thực hiện các công trình đường bộ cao tốc mất từ 3-5 năm thì nay rút ngắn chỉ còn từ 2-2,5 năm. Nhưng việc tiếp cận mỏ vật liệu vẫn chậm so với nhu cầu, thời gian từ khi xin cấp phép đến lúc khai thác mất từ 6 tháng đến 1 năm.

Con số này hoàn toàn có thể rút ngắn hơn theo hướng coi mỏ vật liệu là một hạng mục thuộc công trình, đưa vào từ bước khảo sát thiết kế và hoàn thiện thủ tục về đánh giá tác động môi trường, GPMB trước thời điểm đấu thầu. Đồng thời, cần thiết kế một "bản đồ" quy hoạch vật liệu vùng.

Công tác GPMB cũng cần cơ chế giải quyết linh hoạt hơn nữa, không để "xôi đỗ", cản trở tiến độ thi công.

Ông Lê Khắc Hiệp, Phó chủ tịch Tập đoàn Vingroup:

Từ "sản xuất phụ thuộc" sang "sản xuất tự chủ"

Doanh nghiệp “đầu tàu” kiến tạo hạ tầng- Ảnh 5.

Vingroup đã phát triển mạnh ở nhiều lĩnh vực như bất động sản, du lịch, giáo dục, y tế hay bán lẻ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở những lĩnh vực này, doanh nghiệp có thể góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân trong nước, nhưng khó tạo ra năng lực hội nhập quốc tế. Do đó, Vingroup đã chọn con đường mới trong lĩnh vực công nghiệp, đó là sản xuất ô tô.

Hành trình phát triển VinFast, ngay từ đầu lựa chọn xây dựng một tổ hợp sản xuất tự động hóa cao, với đầy đủ các công đoạn từ nghiên cứu phát triển tới dập, hàn, sơn, sản xuất động cơ và từng bước làm chủ các công nghệ lõi. Đây là nền tảng để chuyển dịch từ "sản xuất phụ thuộc" sang "sản xuất tự chủ".

Quan trọng hơn, VinFast không phát triển như một thực thể đơn lẻ mà định vị mình như một hạt nhân trong chuỗi sản xuất, đóng vai trò kết nối và dẫn dắt mạng lưới các nhà cung cấp. Chính cách tiếp cận này đã bắt đầu tái cấu trúc ngành ô tô Việt Nam theo hướng hình thành chuỗi liên kết kinh tế nội địa.

Một yếu tố mang tính quyết định trong quá trình này là quy mô thị trường. Năm 2025, VinFast đã bàn giao hơn 175.000 xe, là con số kỷ lục tại Việt Nam, giữ vững vị trí thương hiệu ô tô số một tại thị trường trong nước.

Sản lượng thị trường đạt đến ngưỡng đủ lớn chính là tiền đề cho hiệu quả đầu tư của chuỗi công nghiệp hỗ trợ. Khi đó, doanh nghiệp phụ trợ mới có thể mạnh dạn đầu tư sâu vào dây chuyền sản xuất, công nghệ và nhân lực.

Với vai trò là doanh nghiệp hạt nhân, VinFast đã tạo ra lực kéo đủ mạnh để kích hoạt quá trình này, chuyển nhu cầu thị trường thành động lực phát triển cho toàn bộ chuỗi cung ứng.

Chuỗi cung ứng này giải bài toán đầu ra cho doanh nghiệp nội địa, hình thành các cụm liên kết công nghiệp hỗ trợ. Trong nhiều năm, không ít doanh nghiệp có năng lực cơ khí, điện tử, nhưng không dám đầu tư vì thiếu thị trường ổn định. VinFast đã tạo ra sự bảo chứng này thông qua các hợp tác dài hạn và quy mô lớn.

Khi có đơn hàng ổn định, doanh nghiệp có thể tự tin đầu tư vào máy móc, nâng cấp công nghệ và mở rộng sản xuất. Hiệu quả thấy rất rõ, một đối tác đồng hành cùng Vinfast từ 2017 cho biết, quy mô tài sản của doanh nghiệp này đã tăng tới 12 lần sau 7 năm tham gia chuỗi cung ứng cho VinFast.

Tác động của VinFast lan tỏa ra toàn bộ nền kinh tế bằng việc kéo theo nhu cầu từ nhiều ngành liên quan như cơ khí chính xác, điện tử, vật liệu, logistics, năng lượng, tạo ra hiệu ứng lan tỏa đa ngành. Các trung tâm sản xuất VinFast ở Hải Phòng, Hà Tĩnh trở thành cực tăng trưởng mới, thu hút lao động, dòng vốn và thúc đẩy phát triển hạ tầng.

Ở cấp độ quốc tế, việc VinFast tham gia thị trường toàn cầu kéo theo các tiêu chuẩn quốc tế vào chuỗi cung ứng nội địa, tạo áp lực tích cực để doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp năng lực và hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Dù vậy, quá trình hình thành chuỗi liên kết kinh tế và phát triển công nghiệp hỗ trợ vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Năng lực doanh nghiệp nội địa chưa đồng đều, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao. Yêu cầu về vốn và đầu tư cho nghiên cứu phát triển còn lớn.

Ông Nguyễn Việt Thắng, Tổng giám đốc Tập đoàn Hòa Phát:

Làm chủ công nghệ phát triển công nghiệp đường sắt

Doanh nghiệp “đầu tàu” kiến tạo hạ tầng- Ảnh 6.

Sau khi Chính phủ nhiệm kỳ mới ra mắt, với vai trò trong Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, Tập đoàn Hòa Phát cam kết tăng trưởng bình quân 15%/năm trong giai đoạn 2026-2031.

Là doanh nghiệp Top 30 thế giới về sản xuất thép, chúng tôi nhận thức được tầm quan trọng của việc làm chủ công nghệ, tự chủ sản xuất vật liệu cốt lõi cho hạ tầng công nghiệp đường sắt quốc gia, tránh phụ thuộc và nhập khẩu, tạo thêm công ăn việc làm.

Từ cuối năm 2026, năng lực sản xuất thép thô của Tập đoàn đạt 16 triệu tấn/năm, Top 1 Đông Nam Á. Tập đoàn định hướng mở rộng sản xuất các dòng thép chất lượng cao, thép đặc biệt phục vụ công nghiệp cơ khí chế tạo, đường sắt, ô tô, đóng tàu, dầu khí, năng lượng...

Hòa Phát ưu tiên khai thác tối đa công suất các nhà máy thép hiện có, triển khai thêm dự án mới sản xuất thép chất lượng cao, đặc biệt là Nhà máy Sản xuất ray đường sắt và thép đặc biệt Hòa Phát Dung Quất đang được xây dựng.

Với tổng vốn đầu tư 10.000 tỷ đồng, nhà máy có công suất 700.000 tấn/năm. Đến hết tháng 3/3026, dự án đã hoàn thành 35% tiến độ và dự kiến ra sản phẩm ray đường sắt tốc độ cao vào quý I/2027 nhằm kịp thời phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia về đường sắt.

Đây cũng là dự án thể hiện cam kết của Hòa Phát đồng hành cùng Chính phủ khi dịch chuyển sang sản xuất nhiều loại thép chất lượng cao, không chỉ vì mục tiêu lợi nhuận, mà để phục vụ chiến lược công nghiệp hóa.

Chúng tôi đầu tư nhà máy vì một điều đơn giản: "Nếu không ai làm, thì Việt Nam sẽ không bao giờ có ngành công nghiệp đường sắt thực sự. Mỗi kg ray nội địa là một lần Việt Nam không phải chuyển ngoại tệ ra nước ngoài".

Chúng tôi mong Chính phủ và các Bộ, ngành tiếp tục có thêm nhiều quyết sách để khuyến khích, bảo vệ sản xuất trong nước, giúp nuôi dưỡng, hình thành được các doanh nghiệp lớn mạnh, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Doanh nghiệp tư nhân có thể làm những việc mà trước kia chỉ có Nhà nước làm - miễn là họ có năng lực, có sự minh bạch và cam kết dài hạn. Vốn tư nhân có thể huy động, công nghệ có thể mua. Nhưng chỉ Nhà nước mới có thể xác lập và thúc đẩy chiến lược dài hạn của cả ngành, cả lĩnh vực trong 20 hay 30 năm nữa.

Bà Nguyễn Trình Thùy Trang, Phó tổng giám đốc Khối vận hành Coteccons:

Quản trị "vốn con người" thông qua chuyển đổi số

Doanh nghiệp “đầu tàu” kiến tạo hạ tầng- Ảnh 7.

Đến lúc doanh nghiệp cần coi quản trị con người là nền tảng và công nghệ là đòn bẩy, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững (ESG). Đây không phải là lựa chọn mang tính xu hướng, mà là yêu cầu sống còn để một doanh nghiệp truyền thống có thể bước tiếp trong kỷ nguyên mới.

Với Coteccons, bài toán này càng cấp thiết khi doanh nghiệp đang quản lý hơn 4.000 kỹ sư và hơn 40.000 công nhân. Trong năm 2024-2025, Coteccons đã thực hiện chuyển đổi số toàn bộ quy trình nội bộ, giúp mang lại giá trị sinh lời ước tính 232.735 USD.

Cách tiếp cận của doanh nghiệp là không coi quản trị nhân sự như một công việc hành chính, mà phải là quản trị "vốn con người". Tuy nhiên, thách thức lớn nhất trong chuyển đổi số không nằm ở công nghệ mà ở tư duy.

Hành trình chuyển đổi số tại Coteccons không chỉ là mua một giải pháp công nghệ, mà là thay đổi về tư duy quản trị, lấy con người làm trọng tâm, lấy công nghệ làm đòn bẩy và lấy ESG làm kim chỉ nam để tiến tới hành trình trăm năm bền vững.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.