Nhận bản tin miễn phí
Quản lý

Hơn 15.000 trạm sạc và bước chuyển xanh của giao thông Việt Nam

-

Sau 4 năm thực hiện Quyết định 876/QĐ-TTg, hơn 15.000 trạm/cổng sạc đã được triển khai trên cả nước, cùng sự gia tăng của phương tiện điện, cho thấy những bước chuyển rõ nét trong xanh hóa giao thông.

Hơn 15.000 trạm sạc và bước chuyển xanh của giao thông Việt Nam - Ảnh 1.

Quang cảnh Hội nghị tại Bộ Xây dựng sáng 17/9. 

Chính sách từng bước hoàn thiện, phương tiện xanh gia tăng

Sáng 17/9, Bộ Xây dựng tổ chức Hội nghị tham vấn Báo cáo tổng kết thực hiện Quyết định số 876/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và dự thảo Quyết định phê duyệt Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông vận tải.

Hơn 15.000 trạm sạc và bước chuyển xanh của giao thông Việt Nam - Ảnh 2.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Anh Tuấn phát biểu khai mạc Hội nghị.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Anh Tuấn cho biết, thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, Bộ Xây dựng đã tổ chức tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Quyết định 876/QĐ-TTg, đồng thời xây dựng dự thảo Quyết định mới về chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong giao thông vận tải, thay thế Quyết định 876.

Theo Thứ trưởng Lê Anh Tuấn, sau 4 năm triển khai, với sự tham gia tích cực của các bộ, ngành và địa phương, chương trình đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Chính sách phát triển phương tiện giao thông xanh từng bước được hoàn thiện; hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được ban hành, cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyển đổi.

Đáng chú ý, số lượng phương tiện sử dụng năng lượng xanh liên tục gia tăng, đặc biệt là các phương tiện giao thông điện như xe đạp điện và ô tô điện.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn bộc lộ những hạn chế, khó khăn và rào cản trên con đường hướng tới hệ thống giao thông xanh, an toàn, bền vững. Những vấn đề này cần được nghiên cứu, trao đổi kỹ lưỡng trong quá trình hoàn thiện dự thảo Quyết định mới, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường trong tình hình mới.

Thứ trưởng Lê Anh Tuấn đề nghị báo cáo tổng kết cần khái quát đầy đủ những kết quả đạt được, làm rõ tồn tại, hạn chế và các thách thức trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, xác định rõ yêu cầu xây dựng Quyết định thay thế, đặc biệt là khả năng cung ứng điện và phát triển hạ tầng sạc cho các phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, hàng không.

Đối với dự thảo Quyết định mới, cần làm rõ những quan điểm mới, nội dung mang tính đột phá và các ý kiến đã được tiếp thu, giải trình trong quá trình xây dựng văn bản.

Một vấn đề được Thứ trưởng lưu ý là hình thức ban hành văn bản. Dự thảo hiện kế thừa Quyết định 876 với hình thức chương trình hành động, song cần tiếp tục xem xét tính phù hợp của hình thức này đối với lĩnh vực chuyển đổi năng lượng xanh trong giao thông vận tải.

Theo Thứ trưởng, quá trình đổi mới công nghệ và sản xuất phương tiện đòi hỏi nguồn lực kinh tế lớn. Doanh nghiệp cần có thời gian chuẩn bị, đầu tư và thích ứng. Vì vậy, cần nghiên cứu tính chất dài hạn của chương trình, lựa chọn hình thức văn bản phù hợp, bảo đảm lộ trình thực hiện có tính khả thi.

Đồng thời, tiếp tục rà soát mục tiêu, lộ trình, bảo đảm thống nhất với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật mới ban hành và các cam kết cập nhật của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.

Thứ trưởng đề nghị các đại biểu tập trung phân tích những điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, công nghệ và nguồn lực; đề xuất giải pháp tháo gỡ, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh trong giao thông vận tải.

Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cần chú trọng nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, từng bước làm chủ công nghệ phương tiện sử dụng năng lượng xanh, công nghệ lưu trữ và cung cấp năng lượng cho phương tiện giao thông.

Thứ trưởng Lê Anh Tuấn đặc biệt lưu ý các hướng nghiên cứu, ứng dụng pin nhiên liệu, sản xuất hydrogen xanh, xây dựng trạm nạp hydrogen xanh; nghiên cứu sử dụng nhiên liệu sinh học, nhiên liệu tổng hợp, nhiên liệu hàng không bền vững và nhiên liệu hàng hải bền vững. Đây là những hướng năng lượng mới cần được đánh giá về tiềm năng, vai trò và khả năng ứng dụng trong tương lai.

Thứ trưởng nhấn mạnh, việc tham vấn ý kiến các cơ quan, tổ chức, chuyên gia và doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hoàn thiện dự thảo Quyết định, góp phần xây dựng chính sách chuyển đổi năng lượng xanh phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống giao thông vận tải xanh và bền vững.

15.024 trạm/cổng sạc trên cả nước; 6,1% phương tiện điện trong tổng số hơn 6,3 triệu phương tiện; 70,9% taxi là xe điện; 23,1% xe buýt sử dụng điện. Nhu cầu điện bổ sung cho giao thông điện đến năm 2030 dự kiến 3 - 4 tỷ kWh/năm.

Hệ sinh thái giao thông xanh từng bước hình thành

Hơn 15.000 trạm sạc và bước chuyển xanh của giao thông Việt Nam - Ảnh 3.

Bà Nguyễn Thị Phương Hiền, Phó giám đốc Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng báo cáo tại Hội nghị.

Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí cacbon và khí mê-tan của ngành GTVT tại Hội nghị, bà Nguyễn Thị Phương Hiền, Phó giám đốc Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng cho biết, đến nay, hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến chuyển đổi xanh từng bước được bổ sung, hoàn thiện.

Các quy định về đường bộ, trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, hàng không dân dụng và bảo vệ môi trường đã lồng ghép yêu cầu sử dụng năng lượng sạch, phát triển phương tiện phát thải thấp, kiểm soát khí thải và xây dựng hạ tầng phục vụ phương tiện điện.

Báo cáo tổng kết ghi nhận 5 luật chuyên ngành và môi trường, 9 nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị được ban hành, góp phần cụ thể hóa việc thực hiện chương trình. Cùng với đó là 28 tiêu chuẩn Việt Nam liên quan đến hệ sinh thái xe điện và 2 quy chuẩn kỹ thuật trọng tâm về hạ tầng sạc.

Các quy định về ưu đãi đầu tư, thuế, lệ phí trước bạ, giá điện phục vụ sạc xe điện và thị trường các-bon cũng góp phần tạo cơ sở huy động nguồn lực cho quá trình chuyển đổi xanh.

Theo bà Hiền, ở cấp địa phương, chính sách bắt đầu chuyển từ định hướng sang triển khai cụ thể. Hà Nội và TP.HCM đã xây dựng những công cụ quản lý vùng phát thải thấp, hỗ trợ chuyển đổi phương tiện sạch, phát triển giao thông công cộng và từng bước kiểm soát phương tiện cá nhân tại khu vực trung tâm.

Một số chính sách tập trung hỗ trợ nhóm người dân, người lao động sử dụng phương tiện phục vụ sinh kế chuyển đổi sang phương tiện sạch.

Cùng với đó, yêu cầu chuyển đổi xanh được tích hợp trong quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông và quy hoạch năng lượng. Các định hướng phát triển hạ tầng sạc, trạm dừng nghỉ, cảng xanh, sân bay xanh, đường sắt điện khí hóa và logistics được đặt trong mối liên kết giữa nguồn cung năng lượng, hạ tầng và phương tiện.

Điện hóa phương tiện: Những con số cho thấy bước chuyển rõ nét

Trong các lĩnh vực giao thông, đường bộ và giao thông đô thị ghi nhận mức độ chuyển đổi phương tiện điện rõ nét hơn, đặc biệt tại các đô thị lớn.

Đến tháng 6/2026, phương tiện điện chiếm khoảng 6,1% trong tổng số hơn 6,3 triệu phương tiện được báo cáo. Ô tô con chiếm 97,3% tổng số phương tiện điện; xe máy điện tăng trưởng khoảng 28% mỗi năm.

Đối với các nhóm phương tiện vận tải khác, cả nước có 3.893 ô tô tải điện, 47 đầu kéo điện, 2.502 ô tô khách điện, chủ yếu là xe buýt đô thị và 8 ô tô chuyên dùng điện.

Những con số này cho thấy quá trình điện hóa phương tiện đã diễn ra, song chưa đồng đều giữa các nhóm. Xe tải, xe khách đường dài và phương tiện chuyên dụng vẫn còn nhiều dư địa chuyển đổi.

Cùng với phương tiện, hạ tầng sạc cũng từng bước được mở rộng. Đến nay, cả nước có 15.024 trạm/cổng sạc, gồm 5.331 điểm sạc nhanh và 9.693 điểm sạc chậm, hiện diện tại 34/34 tỉnh, thành phố. Trên mạng lưới cao tốc, quốc lộ, hạ tầng sạc đã có mặt tại 125/215 tuyến.

Tuy nhiên, tại các trạm dừng nghỉ, số điểm sạc đã vận hành còn hạn chế. Đến tháng 5/2026, mới có 4/21 trạm dừng nghỉ vận hành hệ thống sạc, trong khi 8 trạm đang lắp đặt.

Hạ tầng phục vụ xe buýt điện cũng đang được phát triển. Hà Nội có 13 depot phục vụ 717 xe buýt điện và 41 tuyến; TP.HCM có 5 depot với 56 trụ sạc siêu nhanh.

Trong lĩnh vực giao thông đô thị, cả nước có 1.946 xe buýt điện trên tổng số 8.428 xe buýt, đạt tỷ lệ 23,1%. Trong đó, Hà Nội và TP.HCM có 1.849 xe buýt điện trên tổng số 4.642 xe; các thành phố trực thuộc Trung ương khác có 37 xe trên 995 xe; 27 tỉnh còn lại có 60 xe trên 2.791 xe.

Đối với taxi, số liệu báo cáo ghi nhận 61.171 taxi điện trên tổng số 86.274 taxi, tương ứng tỷ lệ 70,9%. Kết quả này cho thấy taxi điện đã có mức độ hiện diện đáng kể trong cơ cấu phương tiện vận tải đô thị.

Không chỉ đường bộ, chuyển đổi năng lượng mở rộng sang đường sắt, đường thủy, hàng hải, hàng không.

Song song với điện hóa phương tiện, phát triển đường sắt đô thị được xác định là một hướng nâng cao năng lực vận tải hành khách công cộng.

Hà Nội đang khai thác tuyến Cát Linh - Hà Đông dài 13,1km và đoạn Nhổn - Cầu Giấy dài 8,5km; đồng thời khởi công xây dựng mới 7 tuyến với tổng chiều dài 342km.

TP.HCM đang khai thác tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên dài 19,7km và đã động thổ xây dựng mới 3 tuyến với tổng chiều dài 71,1km.

Đối với đường sắt, quá trình chuyển đổi năng lượng đang được triển khai thông qua nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển các tuyến mới theo hướng điện khí hóa.

Nhiên liệu sinh học đã được thử nghiệm trên đầu máy D12E và D9E. Kết quả báo cáo cho thấy lượng phát thải CO₂ giảm 40%, SO₂ giảm 98,5% và NO₂ giảm 99,1%.

Thử nghiệm nhiên liệu B5 trên tuyến Hà Nội - Hải Phòng cho thấy đầu máy hoạt động ổn định, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.

Đến nay, đã khởi công đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt điện khí hóa Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Hà Nội - Quảng Ninh; đồng thời nghiên cứu phương án chuyển đổi đầu máy diesel, toa xe phát điện sang sử dụng năng lượng không phát thải.

Với đường thủy nội địa, các hoạt động bước đầu tập trung vào khuyến khích đóng mới, nhập khẩu, chuyển đổi phương tiện sang điện và năng lượng xanh; xây dựng, thí điểm cảng xanh và tuyến vận tải xanh.

Tại Huế, 20 thuyền du lịch chạy điện đã được triển khai thí điểm. Bộ tiêu chí kỹ thuật cảng thủy nội địa xanh đang được nghiên cứu.

Trong lĩnh vực hàng hải, các công cụ nâng cao hiệu quả năng lượng và giảm phát thải đã được áp dụng, gồm EEDI đối với tàu đóng mới, EEXI đối với tàu đang khai thác và CII về cường độ các-bon.

Theo đó, có 11 cảng xanh đã được công bố, 13 cảng được đánh giá đạt tiêu chí xanh nhưng chưa công bố. Khoảng 10.000 đèn báo hiệu sử dụng năng lượng mặt trời, tích hợp GPS, đã được triển khai.

Đối với hàng không, trọng tâm hiện nay là nâng cao hiệu quả khai thác, giảm tiêu hao nhiên liệu và phát thải.

Việc sử dụng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) từng bước được triển khai. Lượng SAF pha trộn thực tế tăng từ 37.516 tấn năm 2024 lên 72.358 tấn năm 2025.

Việt Nam đã sử dụng SAF cho chuyến bay quốc tế đầu tiên vào năm 2024 trên chặng Singapore - Hà Nội. Năm 2025, Vietnam Airlines sử dụng SAF trên 6 chuyến bay nội địa xuất phát từ Đà Nẵng đi Hà Nội và TP.HCM.

Các giải pháp khác gồm tăng cường sử dụng thiết bị cấp điện và điều hòa không khí từ mặt đất thay cho APU, đồng thời triển khai hệ thống phối hợp ra quyết định tại sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất.

Hơn 15.000 trạm sạc và bước chuyển xanh của giao thông Việt Nam - Ảnh 4.

Giao thông đường bộ, giao thông đô thị chuyển biến rõ nét trong chuyển đổi xanh. (Ảnh minh họa).


Đồng bộ hạ tầng, năng lượng để mở đường cho giao thông xanh

Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo tổng kết cũng chỉ ra nhiều hạn chế trong quá trình triển khai Quyết định 876.

Mạng lưới trạm sạc, đổi pin và hạ tầng cung cấp nhiên liệu xanh chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Việc phân bố hạ tầng còn chưa hợp lý, đặc biệt thiếu các công trình có công suất lớn phục vụ xe tải, xe khách, depot xe buýt, trạm dừng nghỉ, cảng và sân bay.

Việc phát triển phương tiện điện chưa được kết nối đồng bộ với quy hoạch nguồn điện, lưới điện, vị trí trạm sạc và quỹ đất. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn điện, phòng cháy, chữa cháy, trạm nạp hydrogen, tái chế pin và cấp điện bờ cần tiếp tục được hoàn thiện.

Chính sách hỗ trợ chưa hình thành được gói giải pháp đồng bộ giữa phương tiện, hạ tầng và năng lượng. Chi phí chuyển đổi còn cao, khả năng tiếp cận vốn ưu đãi của doanh nghiệp hạn chế.

Cơ chế đầu tư hạ tầng, đấu nối điện, giá dịch vụ và phát triển các loại nhiên liệu xanh như SAF, hydrogen, nhiên liệu hàng hải xanh vẫn cần được nghiên cứu, hoàn thiện.

Mức độ chuyển đổi cũng chưa đồng đều giữa các phương thức vận tải. Taxi điện phát triển nhanh, xe buýt điện chủ yếu tập trung tại Hà Nội và TP.HCM, trong khi xe tải, xe khách đường dài và phương tiện chuyên dụng chuyển đổi chậm.

Đường sắt, đường thủy, hàng hải và hàng không phần lớn vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu, thí điểm và chuẩn bị điều kiện.

Ngoài ra, tổ chức vận tải còn phụ thuộc nhiều vào đường bộ; kết nối logistics và vận tải đa phương thức chưa phát huy đầy đủ tiềm năng.

Dữ liệu về phương tiện, nhiên liệu, tiêu thụ năng lượng, hạ tầng sạc và phát thải còn phân tán, chưa được chuẩn hóa, chia sẻ và liên thông. Năng lực kiểm kê, đo đạc, báo cáo và thẩm tra phát thải cần được tăng cường để theo dõi, đánh giá hiệu quả chính sách.

Theo đánh giá tại báo cáo tổng kết, việc triển khai Quyết định 876 đã tạo nền tảng pháp lý, quy hoạch và bước chuyển ban đầu về phương tiện, hạ tầng, công nghệ và tổ chức thực hiện.

Để tiến tới mục tiêu giao thông vận tải phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, bà Hiền nhấn mạnh, giai đoạn tiếp theo cần cụ thể hóa lộ trình theo từng nhóm phương tiện, cự ly, tải trọng và địa bàn; đồng bộ đầu tư hạ tầng năng lượng; hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực; nâng cao chất lượng dữ liệu, nhân lực và năng lực theo dõi, đánh giá phát thải.

Việc hoàn thiện chính sách chuyển đổi năng lượng xanh không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn đặt ra bài toán về năng lực công nghệ, hạ tầng và sức cạnh tranh của ngành giao thông vận tải trong dài hạn.

Không chỉ đủ điện, mà phải đúng nơi, đúng thời điểm

Theo báo cáo, nhu cầu điện bổ sung cho giao thông điện đến năm 2030 dự kiến khoảng 3 - 4 tỷ kWh mỗi năm, tương đương 1 - 1,5% sản lượng điện toàn hệ thống.

Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Phương Hiền, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo đảm tổng nguồn điện mà còn phải cung cấp đúng địa điểm, đúng thời điểm, đáp ứng phụ tải cực đại; đồng thời đầu tư nâng cấp trạm biến áp, đường dây và điểm đấu nối.

Tại các đầu mối vận tải lớn như bến xe, depot, cảng cạn và trạm dừng nghỉ, nhu cầu sạc công suất cao có thể làm gia tăng áp lực phụ tải.

Vì vậy, quá trình triển khai cần gắn với các giải pháp sạc thông minh, quản lý phụ tải, tích hợp năng lượng tái tạo và lưu trữ điện; đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp vận tải, chính quyền, ngành điện và nhà phát triển trạm sạc.




Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.