Dự báo đúng nhu cầu, chuẩn bị nhân lực từ sớm
Tại tọa đàm "Hóa giải nguy cơ thiếu hụt nhân lực ngành Xây dựng: Cần cái 'bắt tay' của 'ba nhà'" diễn ra ngày 22/10, các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp cùng chỉ ra những thách thức trong công tác chuẩn bị nguồn nhân lực trước yêu cầu phát triển hạ tầng trong giai đoạn tới.

Các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp cùng hiến kế các giải pháp hoá giải nguy cơ thiếu hụt nhân lực.
PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương, Phó giám đốc Học viện Chiến lược, Bồi dưỡng cán bộ xây dựng nhận định, nhu cầu đào tạo và phát triển nhân lực đang tăng cao trong bối cảnh đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông được đẩy mạnh. Riêng ngành Xây dựng có thể cần bổ sung hàng trăm nghìn lao động trong thời gian tới.
Theo ông Phương, để đáp ứng nhu cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cần xây dựng chiến lược phát triển nhân lực dài hạn, rà soát nhu cầu và tập trung đào tạo, mở rộng quy mô ở những chuyên ngành cần thiết. Công tác đào tạo phải đi trước một bước, gắn với tiến độ triển khai dự án và nhu cầu nhân lực ở từng giai đoạn.
Tuy nhiên, bài toán nhân lực không chỉ nằm ở số lượng. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải đổi mới chương trình, xác định rõ chuẩn đầu ra, chú trọng năng lực ứng dụng công nghệ và khả năng sáng tạo của người học.
Đặc biệt, kiến thức trên giảng đường cần được chuyển hóa thành kỹ năng thực hành thông qua các chương trình thực tập, trải nghiệm thực tế và sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo.
Ở góc độ dự báo, ông Nguyễn Vũ Phương cho rằng, không thể tính toán nhu cầu nhân lực theo cách cơ học, tuyến tính, chẳng hạn lấy chiều dài đường cần xây dựng nhân với một định mức lao động để xác định tổng số người cần thiết.
Việc dự báo phải đánh giá tổng thể nhu cầu của toàn ngành, gắn với đặc điểm từng dự án, năng lực triển khai và khả năng đáp ứng của thị trường lao động. Các yếu tố cần xem xét gồm năng lực đào tạo của cơ sở giáo dục, trình độ chuyên môn, kỹ năng, vị trí công tác hiện tại và khả năng sẵn sàng tham gia dự án của lực lượng lao động.
Một vấn đề đáng lưu ý là khoảng cách giữa kinh nghiệm xử lý công việc hành chính và năng lực chuyên môn kỹ thuật chuyên sâu. Qua khảo sát tại một số địa phương, tỷ lệ cán bộ phụ trách lĩnh vực xây dựng, hạ tầng được đào tạo đúng chuyên ngành còn thấp.
Thực tế này cho thấy, nếu chỉ tập trung bổ sung nhân lực về số lượng mà không tính đến chất lượng và cơ cấu chuyên môn, ngành Xây dựng - Giao thông sẽ khó đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án ngày càng phức tạp.
Vì vậy, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan nghiên cứu chiến lược, cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý nhà nước để xây dựng phương pháp dự báo khoa học, sát thực tiễn. Trên cơ sở đó, sớm hoàn thiện các đề án, chính sách phát triển nhân lực, bảo đảm đủ số lượng, chất lượng và cơ cấu chuyên môn cho các giai đoạn đến năm 2030, 2035 và tầm nhìn đến năm 2050.

Cần xây dựng môi trường làm việc đủ sức thu hút, giữ chân người lao động. Ảnh minh hoạ.
Cải thiện đãi ngộ, giữ chân người lao động
Từ thực tiễn nhiều năm theo dõi các công trình giao thông trọng điểm, PGS.TS Trần Chủng, Chủ tịch Hiệp hội các Nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam, cho rằng nhu cầu nhân lực tăng mạnh vừa mở ra cơ hội phát triển, vừa đặt ra thách thức lớn đối với ngành.
Theo ông, một trong những hạn chế là chưa thực sự chủ động trong quy hoạch, dự báo và xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực dài hạn. Đã có những giai đoạn, các ngành cầu đường tại một số trường đại học tuyển sinh được rất ít, thậm chí phải tuyển ở mức điểm sàn. Trong khi đó, đây là những ngành đòi hỏi tư duy khoa học và năng lực chuyên môn cao để giải quyết các bài toán phức tạp về kết cấu, vật liệu, cơ học và tổ chức thi công.
Nếu không duy trì được nguồn tuyển và chất lượng đào tạo, khi nhu cầu đầu tư hạ tầng tăng mạnh, việc bổ sung ngay đội ngũ nhân lực đủ năng lực sẽ gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh công tác quy hoạch và đào tạo, ông Chủng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường làm việc đủ sức thu hút, giữ chân người lao động. Đặc thù của ngành xây dựng giao thông là người lao động thường xuyên phải làm việc xa nhà, điều kiện sinh hoạt tại công trường còn nhiều khó khăn. Trong khi đó, thu nhập ở một số vị trí chưa tương xứng với công sức bỏ ra, khiến người lao động gặp áp lực về chi phí sinh hoạt và chăm lo gia đình.
Trong bối cảnh các ngành nghề cạnh tranh ngày càng gay gắt để thu hút lao động, nếu không cải thiện điều kiện làm việc và chính sách đãi ngộ, ngành giao thông sẽ khó giữ chân người có tay nghề, chuyên môn tốt.
"Chúng ta cần sớm xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở dự báo nhu cầu và tính toán khoa học, thay vì chỉ giải quyết tình trạng thiếu hụt khi các dự án đã bước vào giai đoạn triển khai", ông Chủng nhấn mạnh, đồng thời đề nghị có cơ chế đãi ngộ phù hợp, bảo đảm thu nhập xứng đáng cho đội ngũ tham gia phát triển hạ tầng giao thông.
Thực tế từ doanh nghiệp cho thấy, việc chuẩn bị nhân lực từ sớm có ý nghĩa quan trọng đối với tiến độ triển khai dự án, ông Nguyễn Quang Huy, Phó chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Đèo Cả cho biết, theo số liệu của tập đoàn, sau Tết khoảng một tháng, chỉ khoảng 70% người lao động quay trở lại làm việc. Tình trạng này khiến thiếu hụt nhân sự xuất hiện ngay từ đầu năm, ảnh hưởng đến kế hoạch tổ chức thi công.
Để chủ động nguồn lực, tập đoàn xác định quan điểm "xây người trước khi xây đường", tức chuẩn bị nhân sự trước khi dự án bước vào giai đoạn triển khai. Tại một số dự án cao điểm, doanh nghiệp cần khoảng 3.000 nhân sự làm việc trên công trường, tổ chức thi công liên tục 24/24h theo mô hình 3 ca, 4 kíp.
Khi dự án Cam Lâm - Vĩnh Hảo hoàn thành vào cuối năm 2023, tập đoàn đã chủ động điều chuyển nhân sự sang các dự án mới. Thậm chí, doanh nghiệp chấp nhận trả lương trước ba tháng để giữ chân người lao động, bảo đảm có đủ nhân lực khi công trình bắt đầu triển khai.
Theo ông Huy, đãi ngộ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tuyển dụng và giữ chân nhân sự. Doanh nghiệp thường xuyên cập nhật mặt bằng tiền lương để có điều chỉnh phù hợp, nhưng không chạy đua tăng lương hay giữ người bằng mọi giá mà hướng tới chính sách hợp lý, bảo đảm quyền lợi người lao động và phù hợp với điều kiện hoạt động.
Trong 6 tháng gần đây, mức lương bình quân của người lao động tại Đèo Cả đã tăng khoảng 40 - 50% so với giai đoạn 2020 - 2021.
Cùng với tiền lương, điều kiện ăn ở, sinh hoạt và an toàn lao động tại công trường cũng được doanh nghiệp quan tâm cải thiện. Đây là những yếu tố góp phần tạo môi trường làm việc ổn định, giúp người lao động yên tâm gắn bó lâu dài.
Gắn đào tạo với công trường, mở rộng cơ hội việc làm
Bên cạnh chính sách đãi ngộ, tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp được xác định là giải pháp quan trọng để chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thực tế.
PGS.TS Nguyễn Hoàng Long, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ GTVT nhận định, nhu cầu nhân lực xã hội hiện nay lớn, mở ra nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên ngành Xây dựng - Giao thông. Tuy nhiên, để theo đuổi nghề nghiệp lâu dài, người học cần có đam mê, được trang bị kiến thức và tạo điều kiện tiếp cận môi trường làm việc thực tế.
Những năm gần đây, nhà trường đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào đào tạo, tập trung phát triển các lĩnh vực xây dựng, giao thông cùng những ngành liên quan như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo. Nhà trường cũng triển khai các chính sách hỗ trợ, ưu đãi, trong đó có giảm học phí đối với một số ngành thuộc lĩnh vực xây dựng công trình, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sinh viên theo học.
Theo ông Long, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ xác định nhu cầu tuyển dụng, xây dựng chương trình đến tổ chức thực tập và đánh giá năng lực đầu ra. Trên cơ sở nhu cầu thực tế, nhà trường có thể điều chỉnh nội dung giảng dạy, còn doanh nghiệp chủ động hơn trong chuẩn bị nhân lực phục vụ các dự án.
Thực tế, Tập đoàn Đèo Cả đang phối hợp với các trường đại học tổ chức cho sinh viên tham quan, trải nghiệm tại công trường. Doanh nghiệp bố trí phương tiện, cán bộ hướng dẫn để sinh viên tiếp cận các dự án như cầu Đại Ngãi, Đồng Đăng - Trà Lĩnh và Hữu Nghị - Chi Lăng.
Thông qua trải nghiệm thực tế, sinh viên có cơ hội tìm hiểu công việc, điều kiện làm việc và những yêu cầu nghề nghiệp cụ thể. Theo ông Huy, nhiều sinh viên nhận thấy điều kiện làm việc tại công trường tốt hơn so với hình dung ban đầu, từ đó có cái nhìn đầy đủ hơn về nghề nghiệp và cân nhắc cơ hội gắn bó với lĩnh vực xây dựng hạ tầng giao thông.
Đối với lĩnh vực đường sắt, yêu cầu chuẩn bị nhân lực càng trở nên cấp thiết khi các dự án quy mô lớn đặt ra đòi hỏi mới về chuyên môn, công nghệ và năng lực quản lý.
Theo ông Nguyễn Vũ Phương, việc phát triển nhân lực cần được triển khai đồng bộ giữa mở rộng quy mô đào tạo, đổi mới chương trình và nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ. Trong đó, doanh nghiệp phải trở thành một chủ thể tích cực của quá trình đào tạo, thay vì chỉ tham gia ở khâu tuyển dụng sau khi sinh viên tốt nghiệp.
Các cơ sở đào tạo cũng cần chủ động tiếp cận doanh nghiệp, cập nhật nhu cầu nhân lực theo từng giai đoạn, từ đó xây dựng kế hoạch tuyển sinh và chương trình đào tạo phù hợp. Người học cần được trang bị nền tảng kiến thức vững chắc, kỹ năng thực hành và khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ.
Từ thực tiễn trên, các chuyên gia cho rằng giải bài toán nhân lực ngành Xây dựng - Giao thông cần sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Trong đó, dự báo đúng nhu cầu, chuẩn bị nguồn lực từ sớm, cải thiện chế độ đãi ngộ và gắn đào tạo với thực tiễn là những yếu tố quan trọng để ngành chủ động trước làn sóng đầu tư hạ tầng.
Khi người học được đào tạo sát yêu cầu công việc, doanh nghiệp chủ động tham gia chuẩn bị nhân lực và người lao động có môi trường làm việc phù hợp, nguồn nhân lực ngành Xây dựng - Giao thông sẽ có điều kiện phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu triển khai các công trình trọng điểm trong thời gian tới.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận